Tỉnh Vĩnh Phúc

   Chuyên mục: Bản đồ Việt Nam
Thành viên


Núi Tam Đảo


1. CON NGƯỜI

Vĩnh Phúc là một vùng đất cổ, thời dựng nước người Việt cổ đã sớm đến định cư sinh sống ở đây và trở thành trung tâm của nước Văn Lang. Qua các di tích khảo cổ ở Lũng Hoà (Vĩnh Tường), Đồng Đậu (Yên Lạc), Thành Dền (Mê Linh) và nhiều địa phương khác trong tỉnh đã khẳng định từ 3.500 năm về trước, người Việt cổ ở Vĩnh Phúc đã biết trồng lúa nước.

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, trước những biến động lớn như chiến tranh, thời tiết khắc nghiệt, chính sách đồng hoá của phong kiến phương bắc, chính sách phong hầu, kiến ấp của các triều đại phong kiến và chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp... các luồng di cư đến Vĩnh Phúc ngày càng đông.

- Năm 1997 khi tái lập tỉnh Vĩnh Phúc toàn tỉnh có 1.103.810 người trong đó người Kinh chiếm đa số, ngoài dân tộc thiểu số chỉ chiếm 2,7% được phân bố:

+ Thị xã Vĩnh Yên: 35.592 người

+ Lập Thạch: 227.960 người

+ Tam Dương + Bình Xuyên: 254.570 người

+ Vĩnh Tường: 190.459 người

+ Yên Lạc: 146.645 người

+ Mê Linh: 248.584 người

- Năm 2005 toàn tỉnh Vĩnh Phúc có 1.169.067 người được phân bố:

+ Vĩnh Yên: 81.537 người

+ Phúc Yên: 86.650 người

+ Lập Thạch: 211.776 người

+ Tam Dương: 94.305 người

+ Tam Đảo: 67.591 người

+ Bình Xuyên: 105.755 người

+ Mê Linh: 182.036 người

+ Yên Lạc: 145.890 người

+ Vĩnh Tường: 193.257 người

2. ĐỊA LÝ

Vĩnh Phúc là tỉnh đồng bằng, là miền chuyển tiếp, cầu nối giữa các tỉnh miền núi Việt Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Với vị trí như vậy, Vĩnh Phúc có 3 loại địa hình chính: địa hình miền núi, địa hình vùng đồi và địa hình vùng đồng bằng.

* Địa hình miền núi Vĩnh Phúc được chia thành 3 loại:

Địa hình núi lửa chủ yếu thuộc dãy Tam Đảo. Trong đó địa phận của Vĩnh Phúc được bắt đầu từ xã Đạo Trù (Lập Thạch) đến xã Ngọc Thanh (Phúc Yên) có chiều dài 30 km theo hướng Đông Nam, có nhiều đỉnh cao trên 1000m. Cao nhất là núi giữa (1.542m), đỉnh Phù Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thị cao trên dưới 1.400m, nổi lên như 3 hòn đảo được gọi là Tam Đảo.

Địa hình núi thấp đại diện là núi Sáng thuộc địa phận xã Đồng Quế và Lãng Công (Lập Thạch) cao 633m, đây là một dạng địa hình xâm thực, bóc mòn. Địa hình núi thấp ở Vĩnh Phúc rộng hàng chục km2.

Địa hình núi sót gồm núi Đinh, núi Trống (Vĩnh Yên), núi Thanh Tước (Mê Linh). Địa hình núi sót chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có chiều dài vài km, rộng vài trăm mét, với độ cao từ 50-70m.

* Địa hình vùng đồi: Phổ biến ở các huyện trong tỉnh với mức độ khác nhau. Nhiều nhất là các huyện Lập Thạch, Tam Dương có độ cao từ 50-200m. Đồi ở các huyện đồng bằng thưa thớt có độ cao từ 20-50m.

* Địa hình đồng bằng: Chiếm 40% diện tích toàn tỉnh được chia thành 3 loại:

- Đồng bằng châu thổ được hình thành do quá trình lắng đọng trầm tích tại các cửa sông lớn như Sông Hồng, Sông Lô, Sông Phó Đáy và hệ thống sông suối từ dãy Tam Đảo chảy ra.

Diện tích đồng bằng được phân bố trên toàn bộ huyện Yên Lạc, hầu hết huyện Vĩnh Tường, chiếm diện tích lớn ở Tam Dương, Bình Xuyên, Mê Linh. Đồng bằng châu thổ phì nhiêu đã thu hút con người đến sinh cư lập nghiệp từ rất sớm.

- Đồng bằng trước núi (đồng bằng giới hạn) được hình thành do sức bóc mòn, xâm thực của nước mặt bồi lắng tạo thành, được bao quanh là đồi núi. So với đồng bằng châu thổ, đồng bằng trước núi kém màu mỡ hơn.

- Địa hình thung lũng, bãi bồi sông được hình thành chủ yếu do tác động xâm thực của dòng chảy, là nguồn phù sa màu mỡ tạo thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, đồng thời còn cung cấp cát, sỏi, thạch anh và si lích cho ngành xây dựng.

Khu du lịch nghĩ dưỡng Tam Đảo

* Sông ngòi và đầm hồ: Vĩnh Phúc có hệ thống sông ngòi, đầm hồ dày đặc, ngoài giá trị về kinh tế còn tạo ra môi trường cảnh quan, tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển trong tương lai.

Hệ thống Sông gồm Sông Hồng, Sông Lô và Sông Phó Đáy. Sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ ngã 3 Hạc đến xã Tráng Việt (Mê Linh) dài 41km. Sông Lô chảy vào Vĩnh Phúc qua Lập Thạch đến ngã 3 Hạc dài 43 km. Sông Phó Đáy chảy vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn (Lập Thạch) đến xã Sơn Đông (Lập Thạch) rồi đổ vào Sông Lô dài 55 km. Ngoài ra còn có Sông Phan, Sông Cầu Bòn, Sông Bá Hạ, Sông Cà Lồ đều được bắt nguồn từ dãy Tam Đảo và chảy về phía Nam của tỉnh.

Ngoài hệ thống sông ngòi, Vĩnh Phúc còn có hệ thống đầm, hồ phân bố rải rác khắp trên địa bàn tỉnh như đầm Vạc (Vĩnh Yên), đầm Dưng, Vực Xanh, Vực Quảng Cư, đầm Ngũ Kiên (Vĩnh Tường), đầm Tam Hồng, Cốc Lâm (Yên Lạc). Hồ Đá Ngang, hồ Khuân, hồ Bò Lạc, Vân Trục, suối Sải (Lập Thạch), hồ Đại Lải (Phúc Yên), hồ Xạ Hương (Bình Xuyên), hồ Làng Hà (Tam Dương).

Hồ Đại Lải

3. THÔNG TIN CHÍNH PHỦ

Nghị quyết số 38/NQ-CP của Chính phủ: Về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) tỉnh Vĩnh Phúc

4. THÔNG TIN UBND TỈNH/THÀNH PHỐ

UBND tỉnh Vĩnh Phúc

Cơ chế, chính sách thu hút đầu tư.

5. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

TỔNG QUAN VỀ ĐIỂU KIỆN, TIỀM NĂNG VÀ NGUỒN LỰC KINH TẾ VĨNH PHÚC

Vĩnh Phúc nằm ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội, là cầu nối giữa các tỉnh Việt Bắc với Hà Nội và đồng bằng châu thổ sông Hồng, do vậy có vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế khu vực và quốc gia.

Địa hình của Vĩnh Phúc chia làm ba vùng: rừng núi, trung du và đồng bằng. Vùng rừng núi nằm ở phía bắc, tiếp giáp với khu vực rừng núi của 2 tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên, trong đó có hai dãy núi quan trọng là Tam Đảo và Sáng Sơn, có tiềm năng lớn về tài nguyên rừng và du lịch. Các nhà nghiên cứu khi xem xét vùng đồng bằng sông Hồng dưới góc độ địa lí, văn hoá đã xếp khu vực này vào vùng địa - văn hoá thềm phù sa cổ. Như vậy, Vĩnh Phúc không những là địa phương có bề dày lịch sử về văn hoá, mà còn có thể coi là nơi khởi nguồn của nền văn minh của đồng bằng Bắc Bộ.

Vùng đồng bằng phía nam có tổng diện tích 46.8 nghìn ha, bao gồm 46 xã, phường, thị trấn thuộc địa bàn các huyện Mê Linh (đã được điều chỉnh về Hà Nội năm 2008), Vĩnh Tường, Yên Lạc và 6 xã của huyện Bình Xuyên, 3 xã của huyện Tam Dương. Vùng đồng bằng có 32,9 nghìn ha diện tích đất nông nghiệp. Đây là khu vực có tiềm năng và có truyền thống trồng lúa nước, cây vụ đông, trồng rau, chăn nuôi lợn,… có đủ các điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp thâm canh năng suất cao.

Vùng trung du ở giữa có địa hình đồi gò xen kẽ nhau từ đông sang tây, gồm 8 xã của huyện Tam Dương, 6 xã của huyện Bình Xuyên, 10 xã của huyện Lập Thạch và Sông Lô; 6 phường của thành phố Vĩnh Yên và 2 xã của thị xã Phúc Yên. Tổng diện tích khu vực này là 24,9 nghìn ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 14 nghìn ha. Đây là vùng có quỹ đất đai dồi dào, đặc biệt là đất đồi thích hợp trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, hoa màu và chăn nuôi đại gia súc. Vì vậy, vùng này có điều kiện để chuyển đổi cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi theo hướng tăng sản xuất hàng hoá thực phẩm.

Về mặt thủy văn, trên địa bàn Vĩnh Phúc, hệ thống sông suối khá đa dạng, trong đó lớn nhất là hai hệ thống sông Lô và sông Hồng. Sông Lô ở phía Tây với chiều dài chảy qua địa bàn tỉnh là 37 km, trở thành ranh giới tự nhiên giữa Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Ở phía Nam, sông Hồng cũng là ranh giới phân tách giữa Vĩnh Phúc với Hà Nội với chiều dài chảy qua là 40 km. Ngoài ra, trên địa phận Vĩnh Phúc còn có nhiều sông ngòi nhỏ bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo chảy xuống vùng đồng bằng như sông Phó Đáy, sông Cà Lồ.

Vĩnh Phúc còn có nhiều đầm, hồ lớn được hình thành bởi kiến tạo địa lí hoặc do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội sau này, như đầm Vạc, đầm Rượu, đầm Đông Mật, đầm Kiên Cương, đầm Dưng, hồ Đại Lải, hồ Thanh Hương, Xạ Hương, Vân Trục,... Đây là những đầm, hồ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước, điều hoà khí hậu, phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ, du lịch.

Với vị trí địa lí và thủy văn thuận lợi, hệ thống giao thông của Vĩnh Phúc phát triển khá sớm. Ngay từ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nhằm mục đích khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tỉnh và các vùng lân cận, thực dân Pháp đã triển khai xây dựng hệ thống giao thông vận tải bao gồm cả đường bộ, đường sắt và đường hàng không. Hiện nay, quốc lộ 2 Hà Nội - Hà Giang chạy qua địa phận Vĩnh Phúc với trên 50 km, song song với đường sắt Hà Nội - Lào Cai qua Vĩnh Phúc. Quốc lộ 2B từ Vĩnh Yên đi khu nghỉ mát Tam Đảo, quốc lộ 2C từ Vĩnh Yên qua Tam Dương, Lập Thạch, Sông Lô đi Tuyên Quang. Đây là những tuyến đường bộ mang tầm chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của miền Bắc. Bên cạnh đó, các đường nối từ vùng đồng bằng lên miền núi cũng khá phong phú, như đường 12, 13, 23, 40, 129... với tổng chiều dài trên 302 km. Hệ thống giao thông đường thuỷ cũng được chú ý và khá phát triển, nhất là trên hệ thống sông Hồng, Sông Lô. Đường hàng không, ngay từ năm 1941, phát xít Nhật đã cho xây dựng sân bay Hương Gia trên địa bàn Vĩnh Phúc nhằm phục vụ cho nhu cầu quân sự. Hoà bình lập lại tại khu vực Đa Phúc - Kim Anh, Nhà nước ta đã xây dựng sân bay quân sự Đa Phúc, về sau sân bay này được cải tạo xây dựng thành sân bay Nội Bài, sân bay quốc tế quan trọng nhất ở khu vực phía Bắc.

Về khí hậu, chế độ gió mùa và sự thay đổi khí hậu trong năm một mặt tạo điều kiện cho việc thực hiện thâm canh, gieo cấy nhiều vụ, đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, tăng hệ số sử dụng đất nông nghiệp. Song, mặt khác cũng gây ra không ít khó khăn như úng lụt, khô hạn, sương muối, lốc xoáy, mưa đá ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân.
Nguồn tài nguyên khoáng sản của Vĩnh Phúc không phong phú. Tuy có một số loại khoáng sản quý hiếm như thiếc, vàng sa khoáng nhưng trữ lượng thấp, phân tán, do vậy không thuận lợi cho đầu tư khai thác. Khoáng sản có trữ lượng đáng kể nhất là vật liệu xây dựng như đá xây dựng, đá granit (khoảng 50 triệu m3), cao lanh, cát sỏi và đất sét,…

Tài nguyên rừng của Vĩnh Phúc tương đối đa dạng do có địa hình rừng núi và gò đồi, nhất là có vườn quốc gia Tam Đảo, có giá trị về kinh tế lâm nghiệp và du lịch. Hiện đất lâm nghiệp đang sử dụng có 27,3 ngàn ha, trong đó đất có rừng trồng 13,4 nghìn ha, đất có rừng tự nhiên 9,8 nghìn ha và trong tương lai có thể trồng thêm 11 nghìn ha đất trống đồi trọc thuộc đất lâm nghiệp, đất chưa sử dụng và trồng cây phân tán.

Ngoài Tam Đảo, Vĩnh Phúc còn có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch của tỉnh rất đa dạng và phong phú, nhiều điểm du lịch lại nằm trong quy hoạch tổng thể về du lịch của vùng Bắc Bộ.

So với các tỉnh, thành trong cả nước, Vĩnh Phúc là tỉnh có dân số thuộc loại trung bình. Hiện nay, toàn tỉnh có hơn 1 triệu người sinh sống, trong đó người Kinh chiếm trên 97%, người Sán Dìu chiếm 2,5%, dân cư thuộc các thành phần dân tộc khác có số lượng ít chủ yếu đến Vĩnh Phúc do quá trình chuyển cư và hôn nhân.

Năm 1997, nguồn lực lao động của tỉnh là 584,59 nghìn người: khoảng 7,3% lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật; lao động chưa qua đào tạo chiếm số lượng lớn. Hiện nay, lao động có trình độ đại học và cao đẳng trở lên đang có chiều hướng tăng.

Bên cạnh những thuận lợi rất căn bản, sự phát triển kinh tế của Vĩnh Phúc cũng có nhiều khó khăn và hạn chế. Một trong những khó khăn lớn nhất là nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, chưa có tích luỹ, đời sống của một bộ phận cư dân còn khó khăn, dẫn đến hạn chế khả năng tự đầu tư phát triển.

Cơ sở hạ tầng còn yếu kém và chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất hàng hoá và phát triển thương mại trong cơ chế thị trường. Những năm gần đây, tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng chưa đủ để đảm bảo phát triển ổn định và bền vững. Đó là những thách thức cơ bản của Vĩnh Phúc khi bước vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Giai đoạn 1954 - 1975 23/09/2009

Từ cuối năm 1954, cùng với việc khắc phục những hậu quả chiến tranh, tỉnh Vĩnh Phúc tích cực khôi phục kinh tế, tập trung phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp, đồng thời chú trọng phát triển công - thương nghiệp. Từ tháng 10 đến cuối tháng 12 - 1954, nhân dân các huyện Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Yên Lãng, Bình Xuyên đã góp gần 7 vạn ngày công để tu bổ hệ thống nông giang Liễn Sơn và nhanh chóng đưa vào sử dụng, cung cấp nước tưới cho 21.500 ha lúa của 6 huyện trong tỉnh (xem tiếp).

Giai đoạn 1975 - 1997 22/09/2009

Đây là giai đoạn nhân dân Vĩnh Phúc bắt tay vào xây dựng quê hương trong điều kiện mới. Tuy nhiên, hậu quả sau chiến tranh, cộng với thiên tai địch hoạ và sự thiếu thốn về vật tư, nguyên liệu đã gây không ít khó khăn, cản trở cho việc phục hồi kinh tế, phát triển sản xuất. Cùng đó cơ chế tập trung quan liêu bao cấp là một trong những lực cản lớn khi bắt tay vào xây dựng cơ sở vật chất cho sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa (xem tiếp).

Giai đoạn 1997- 2011 21/09/2009

Ngày 01/01/1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập theo Nghị quyết kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX ngày 26/11/1996. Sau 15 năm tái lập tỉnh (1997-2011), dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự chỉ đạo điều hành của các cấp chính quyền cùng với nỗ lực của mọi thành phần kinh tế và các tầng lớp nhân dân, kinh tế - xã hội của tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, hoàn thành hầu hết các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc các khoá XII, XIII, XIV đề ra (xem tiếp).

6. THÔNG TIN DỰ ÁN

Hướng dẫn số 81/HD-LN của Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương ngày 27 tháng 4 năm 2012 Chính sách hỗ trợ đầu tư hạ tầng Cụm công nghiệp thực hiện Nghị quyết 12/2010/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Về trang bản đồ