Tỉnh Tuyên Quang

   Chuyên mục: Bản đồ Việt Nam
Thành viên



1. CON NGƯỜI

Dân số - Dân tộc: Theo kết quả điều tra ngày 1/4/2009, tỉnh Tuyên Quang có 727.505 người. Trong đó dân số trong độ tuổi lao động là 377.314 người, chiếm 55,80% dân số toàn tỉnh. Trên địa bàn tỉnh có 23 dân tộc cùng sinh sống. Ðông nhất là dân tộc Kinh có 326.033 người, chiếm 48,21%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Tầy có 172.136 người, chiếm 25,45%; dân tộc Dao có 77.015 người, chiếm 11,38%; dân tộc Sán Chay có 54.095 người, chiếm 8,0%; dân tộc Mông có 14.658 người, chiếm 2,16%; dân tộc Nùng có 12.891 người, chiếm 1,90%; dân tộc Sán Dìu có 11.007 người, chiếm 1,62%; các dân tộc khác chiếm 1,28%.


Trình độ dân trí: Tính đến năm 2002, tỉnh Tuyên Quang đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 100% số xã và đã phổ cập THCS cho 135 xã. Số học sinh phổ thông năm học 2001 - 2002 là 196.252 em. Số giáo viên phổ thông là 8.020 người. Số thầy thuốc là 1.291 người, bình quân 19 y, bác sỹ trên 1 vạn dân.

2. ĐỊA LÝ

Vị trí địa lý: Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc có toạ độ địa lý 21030'- 22040' vĩ độ Bắc và 104053'- 105040' kinh độ Ðông, cách Thủ đô Hà Nội 165 Km. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.868 km2, chiếm 1,78% diện tích cả nước. Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh là quốc lộ 2 đi qua địa bàn tỉnh dài 90 km từ Phú Thọ lên Hà Giang, quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi qua huyện Sơn Dương, Yên Sơn đi Yên Bái. Hệ thống sông ngòi của tỉnh bao gồm 500 sông suối lớn nhỏ chảy qua các sông chính như: Sông Lô, Sông Gâm, Sông Phó Ðáy.

Ðịa hình: Tuyên Quang bao gồm vùng núi cao chiếm trên 50% diện tích toàn tỉnh gồm toàn bộ huyện Na Hang, Lâm Bình, xã vùng cao của huyện Chiêm hoá và 02 xã của huyện vùng cao Hàm Yên; vùng núi thấp và trung du chiếm khoảng 50% diện tích của tỉnh, bao gồm các xã còn lại của 02 huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên và các huyện Yên Sơn, Sơn Dương. Ðiểm cao nhất là đỉnh núi Chạm Chu (Hàm Yên) có độ cao 1.587 m so với mực nước biển.

Khí hậu: Mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á Trung Hoa có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh - khô hạn và mùa hè nóng ẩm mưa nhiều; mưa bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 và thường gây ra lũ lụt, lũ quét. Các hiện tượng như mưa đá, gió lốc thường xảy ra trong mùa mưa bão với lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.500 - 1.700 mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 220 - 240 C. Cao nhất trung bình 330 - 35C, thấp nhất trung bình từ 120 - 130 C; tháng lạnh nhất là tháng 11 và 12 (âm lịch), hay có sương muối.

Một số điểm địa điểm du lịch ở Tuyên Quang

Khu du lịch sinh thái Nà Hang: là huyện vùng cao phía bắc của tỉnh Tuyên Quang, cách thị xã Tuyên Quang 108km, giáp 3 tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn; với gần 20 dân tộc anh em chung sống. Thiên nhiên đã ban tặng cho Na Hang những cảnh vật kỳ vĩ, những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá. Na Hang giàu tiềm năng để trở thành vùng du lịch sinh thái cực kỳ hấp dẫn. 


Trước kia, đi từ thị xã Tuyên Quang lên Nà Hang phải mất cả ngày đường nhưng bây giờ chỉ hơn hai giờ đi xe khách. Trong những năm gần đây Na Hang đã và đang trở thành một trung tâm buôn bán với nhiều hoạt động du lịch sính thái nhộn nhịp. Lãnh đạo đảng bộ và chính quyền tỉnh và huyện đặt mục tiêu phấn đấu, đến năm 2020 Nà Hang sẽ là một thị xã sầm uất và phát triển mọi mặt. 

Nà Hang được biết đến bởi sức cuốn hút kỳ lạ của một vùng sinh thái và văn hóa phong phú của nhiều dân tộc như: Tày, Dao, Mông, Kinh... Người Nà Hang đã tạo nên một kho tàng văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc, một vùng âm nhạc dân gian độc đáo với những làn điệu Then, Sli, Lượn...cùng với tiếng đàn Tính, tiếng Khèn làm say đắm lòng du khách.

Thiên nhiên đã ban tặng cho Na Hang nhiều tài nguyên quý báu, đặc biệt là tài nguyên rừng. Rừng chiếm 84,62% diện tích tự nhiên toàn huyện, có giá trị về kinh tế, có ý nghĩa quan trọng việc phòng hộ và bảo vệ môi trường sinh thái. Khu Du lịch sinh thái Nà Hang là một trong ba khu du lịch được UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Phạm vi quy hoạch rộng 150.000 ha, trong đó diện tích lòng hồ là 8.000 ha. Nà Hang đang phấn đấu đưa ngành du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Mảnh đất này chính là nơi hội tụ của hai con sông lớn: Sông Gâm và sông Năng với những dãy núi trùng điệp, hùng vĩ ; những hang động huyền ảo và đầy huyền thoại đã đi vào truyền thuyết và thơ ca.

Đến Nà Hang chắc chắn sẽ không ai bỏ lỡ cơ hội đi du thuyền trên lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang, để được đắm mình với thiên nhiên mênh mông sông nước, trùng điệp núi rừng, được nghe những câu chuyện kể về sự tích gắn với từng địa danh nơi đây. Trên đường đi vãn cảnh lòng hồ, quý khách sẽ được ghé thăm thác Pắc Ban (thác Mơ) kỳ ảo, thơ mộng được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng là thắng cảnh Quốc gia; khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung; ghe thăm thác Khuẩy Súng, Khuẩy Nhi, Khuẩy Me, Tin Tát; thăm hang Phia Vài (hang người Việt cổ, nơi phát hiện ra hai di tích mộ táng và một di tích bếp lửa thuộc thời đồ đá trên dưới 10.000 năm)...

Những cánh rừng nguyên sinh của Nà Hang có cây nghiến nghìn năm tuổi và loài Voọc mũi hếch được ghi trong sách đỏ thế giới. Chân núi Pắc Tạ có đền thờ vị thiếp của Tướng quân Trần Nhật Duật. Bà theo chồng kinh lý vùng sông Gâm và sông Năng và bị tử nạn. Người dân nơi đây nói rằng, ngôi đền này rất thiêng và du khách khắp nơi thường đến nơi cầu nguyện. Cũng trên đường du ngoạn bằng thuyền, du khách cũng thường ghé thăm và thắp hương ngôi đền Pắc Vãng.

Đi dọc sông từ Thượng Lâm, giữa cảnh sông nước núi non hùng vĩ, là sừng sững chiếc “cọc Vài” đá (tiếng Tày nghĩa là cọc buộc Trâu) gắn với sự tích Tài Ngào. Dọc đường đến Tân Xuân là gặp thác Nậm Mè (nghĩa là suối mẹ). Thác nước đổ như mái tóc buông xuống rừng cây đại ngàn, tạo thành bức tranh tuyệt mỹ.

Từ đoạn hợp lưu sông giữa Gâm với sông Năng, lại là một vùng sông nước, núi non hùng vĩ, bóng cây cổ thụ của những cánh rừng nguyên sinh đổ xuống mặt nước thật lung linh kỳ vĩ. Những thác Tin Tát, Đén Luông, Đén Lang thật thơ mộng. Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung có diện tích rừng nguyên sinh 37.000 ha với những loài gỗ quý đinh lim, sến, nghiến... và những loài thú quý hiếm hổ báo, trăn, gấu, voọc mũi hếch... sẽ là khu du lịch sinh thái hấp dẫn.

Nà Hang ngoài phong cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, vùng văn hóa đa dạng, còn hấp dẫn du khách bởi những món ăn mang đậm bản sắc dân tộc. Đặc biệt Na Hang có rượu ngô men lá ngon nổi tiếng. Thứ rượu này uống bao nhiêu cũng chỉ lâng lâng mà không say xỉn. Để làm được thứ ruợu thơm ngon này, phải qua một quy trình rất công phu. Nếu ai đã từng được thưởng thức thứ rượu thơm ngon nơi đây, có lẽ sẽ nhớ mãi cái hương vị đậm đà “khó quên” này.

Nói đến Nà Hang không thể không nhắc đến công trình thuỷ điện Tuyên Quang nằm trên đại bàn của huyện. Công trình thủy điện lớn thứ ba toàn quốc này có công suất 342 MW gồm 3 tổ máy, sản lượng điện hàng năm 1.295 triệu KW. Thủy điện Tuyên Quang gắn liền với vùng du lịch Na Hang huyền bí và thơ mộng.

Đồng chí Hứa Kiến Thiết, Bí thư huyện ủy Nà Hang trong buổi làm việc với chúng tôi cho biết, huyện xác định du lịch sinh thái là ngành kinh tế mũi nhọn của Na Hang. Vài năm gần đây, du lịch đóng góp vào kinh tế của huyện ngày càng tăng và chắc chắn những năm tới đây, du lịch sẽ có đóng góp xứng đáng cho việc phát triển kinh tế - xã hội của Na Hang. Tỉnh Tuyên Quang và huyện Nà Hang đã có kế hoạch gìn giữ và bảo tồn những khu du lịch sinh thái, những khu rừng tự nhiên để tạo tiền đề cho sự phát triển du lịch của tỉnh nói chung và của huyện nói riêng.

Anh Lê Thanh Sơn, Giám đốc Ban quản lý Khu du lịch sinh thái Nà Hang cho biết, sắp tới, Khu du lịch sinh thái Nà Hang sẽ hình thành một số phân khu chức năng như Khu lâm viên Phiêng Bung (có sân bay mini, trường đua ngựa, sân gôn, bãi cắm trại...); khu lâm thủy Cọc Vài (gồm khu biệt thự, đảo nuôi thú, khu thể thao mạo hiểm, khu câu cá, bến cảng); khu thể thao trên nước; khu làng văn hóa lịch sử...Tỉnh và huyện đang kêu gọi đầu tư để xây dựng Nà Hang thành một trung tâm du lịch sinh thái hấp dẫn.

Đền Thượng

Đền Thượng Tuyên Quang: Thuộc xóm 14, xã Tràng Đà, thị xã Tuyên Quang, đền thờ Mẫu Thần, được dựng vào năm 1801, được các triều đại phong kiến trao tặng năm sắc phong, sắc phong lần đầu tiên vào năm 1835 và lần cuối cùng vào năm 1890. Ngày lễ lớn của đền là ngày 12/2 âm lịch hàng năm: đó là lễ rước Mẫu từ đền Thượng về đền Hạ, ngoài ra còn nhiều ngày lễ khác. Những ngày lễ của đền đều thu hút được đông đảo du khách tâm linh trong và ngoài tỉnh. Cảnh quan của đền thật là huyền ảo, hữu tình. Trước mặt đền là dòng sông Lô chảy hiền hoà, phía sau là những dãy núi trùng điệp tạo sự linh thiêng huyền bí. Đến đền Thượng, du khách tâm linh vừa đi lễ vừa có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp thơ mộng của núi rừng nơi đây.

Khu du tích lích sử Tân Trào

Vị trí: Tân Trào thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, cách thị xã Tuyên Quang khoảng 41km về phía tây bắc, cách Hà Nội 200km.

Đặc điểm: Tân Trào là căn cứ địa của cách mạng Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.

Tân Trào là một thung lũng nhỏ; thủ đô lâm thời của khu giải phóng, nơi Ðảng cộng sản Việt Nam tiến hành hội nghị toàn quốc của Ðảng (13/8/1945) quyết định tổng khởi nghĩa. Ðại hội quốc dân họp ngày (16/8/1945) thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, bầu ra Chính phủ lâm thời do Bác Hồ làm Chủ tịch và nơi quân giải phóng Việt Nam làm lễ ra quân.

Những di tích chính ở Tân Trào:

+ Ðình Tân Trào: nơi họp đại hội quốc dân ngày 16/8/1945.

+ Ðình Hồng Thái: nơi đón tiếp các đại biểu về dự đại hội.

+ Cây đa Tân Trào: cách đình Tân Trào khoảng 100m về phía bắc.

+ Lán của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Nà Lừa. Lán do đơn vị giải phóng quân dựng để Người ở và làm việc từ tháng 6/1945 đến cuối tháng 8/1945, Người về Hà Nội.

Cây Đa Tân Trào:


Dưới bóng cây Đa của làng Tân Lập, chiều ngày 16 tháng 8 năm 1945, quân Giải phóng Việt Nam làm lễ xuất quân trước sự chứng kiến của nhân dân Tân Trào và 60 Đại biểu toàn quốc về dự Quốc dân Đại hội. Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đọc Bản Quân Lệnh số 1 và ngay sau đó quân Giải phóng đã lên đường qua Thái Nguyên tiến về giải phóng Hà Nội.

Xem thêm địa điểm du lịch.

3. THÔNG TIN CHÍNH PHỦ

Quyết định số 100/2008/QĐ-TTg ngày 15/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020.

Ngày 4/3/2013, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải dẫn đầu Đoàn công tác Chính phủ đã đến thăm và làm việc với lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang về tình hình triển khai nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2013 (xem chi tiết).

4. THÔNG TIN UBND TỈNH/THÀNH PHỐ

Chiều 11/4/2013 tại UBND tỉnh diễn ra cuộc họp bàn về quy hoạch xây dựng và phát triển thành phố Tuyên Quang theo tiêu chí đô thị loại II. Đồng chí Phạm Minh Huấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND chủ trì cuộc họp.


Toàn cảnh cuộc họp

Tại cuộc họp, các đại biểu đã đóng góp ý kiến sửa đổi và thông qua Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Quy hoạch xây dựng và phát triển thành phố Tuyên Quang. Qua đó, quy định rõ trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc và quan hệ công tác của Ban chỉ đạo.

Cũng tại buổi họp, các đại biểu đã được nghe dự thảo đề án xây dựng và phát triển thành phố Tuyên Quang theo tiêu chí đô thị loại II. Thành phố Tuyên Quang là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đầu mối giao thông của tỉnh. Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 600 tỷ đồng/năm; mức tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 17%/năm; tỉ lệ hộ nghèo năm 2011 là 4,55%, hầu hết nhà ở đã được kiên cố hóa… Trong những năm gần đây, được quan tâm xây dựng, bước đầu bộ mặt đô thị của thành phố đã có nhiều khởi sắc, có tiềm năng để đầu tư xây dựng đô thị theo hướng văn minh, hiện đại.

Dự thảo đã xác định các nhiệm vụ quan trọng xây dựng và phát triển thành phố Tuyên Quang đến năm 2020, trong đó tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm: Xây dựng và phát triển thành phố Tuyên Quang đến năm 2020 cơ bản đạt tiêu chí đô thị loại II và từng bước đạt tiêu chí đô thị loại I; tập trung phát triển hạ tầng xã hội, tăng cường công tác quản lý đô thị; khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế để chuyển đổi mô hình tăng trưởng cơ cấu nền kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển; phát triển các lĩnh vực văn hóa – xã hội đi đôi với phát triển kinh tế; tập trung chú trọng vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; bảo đảm an ninh, quốc phòng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Đồng chí Phạm Minh Huấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND yêu cầu UBND thành phố tiếp thu các ý kiến đóng góp trong buổi họp, chỉnh sửa và hoàn thiện một số nội dung trong bản đề án để trình UBND trong tháng 5 tới.

5. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Theo kế hoạch, năm 2013, tỉnh Tuyên Quang phấn đấu đạt tăng trưởng tăng 13,5%, thu nhập bình quân đầu người đạt 25 triệu đồng/năm, thu ngân sách đạt 1.315 tỷ đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 18,61%. Trong 2 tháng đầu năm, chỉ số kinh tế cho thấy sự tạo đà vững chắc cho cả năm: công nghiệp tăng 18,24%, tổng mức bán lẻ tăng 34,3%, khách du lịch tăng 39%, xuất khẩu tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.

Ngày 25/4/2013, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai Quy hoạch và nhiệm vụ phát triển du lịch giai đoạn 2013-2015. Đồng chí Phạm Minh Huấn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có đại diện các ban HĐND tỉnh, Uỷ ban MTTQ tỉnh, lãnh đạo các sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố, ban quản lý các khu, điểm du lịch của tỉnh, các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, du lịch trong và ngoài tỉnh.

Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Phạm Minh Huấn chủ trì hội nghị

Ngày 28/1/2013 Chủ tịch UBND tỉnh đã có Quyết định số 28/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Theo đó phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh; phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm trọng điểm, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh; phát triển du lịch bền vũng gắn với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, giữ gìn cảnh quan môi trường; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực đầu tư, phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế để phát triển du lịch. Mục tiêu đến năm 2015, toàn tỉnh đón trên 1.047.000 lượt khách, doanh thu đạt hơn 1.125 tỷ đồng, có trên 50 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao trở lên, trong đó ít nhất có 8 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao trở lên; năm 2020 đón trên 1.695.000 lượt khách, thu hơn 2.731 tỷ đồng, có 115 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao trở lên, trong đó ít nhất 10 khách sạn đật tiêu chuẩn 3 sao trở lên; đến năm 2030 đón trên 3.678.000 lượt khách, thu gần 11.268 tỷ đồng, có trên 180 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao trở lên, trong đó có ít nhất 20 khách sạn đạt tiêu chuẩn 3-5 sao. Từ phát triển du lịch, tạo việc làm cho 20.400 lao động vào năm 2020 và 48.000 lao động vào năm 2030.

Trong giai đoạn 2013-2015, tỉnh tập trung quy hoạch chi tiết các điểm du lịch, các phân khu chức năng trong các khu du lịch để làm cơ sở lập dự án đầu tư xây dựng các khu, điểm du lịch trên địa bàn toàn tỉnh; tập trung vốn ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn lực hợp pháp khác để đầu tư cơ sở hạ tầng tại các khu, điểm du lịch; tăng cường chính sách ưu đãi đầu tư cho các dự án đã được quy hoạch; phát triển lưc lượng lao động trong ngành du lịch đảm bảo chất lượng, số lượng; đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động xúc tiến quảng bá trên quy mô lớn; phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương; tăng cường liên kết hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh, thành phố trong nước và quốc tế.

Tại hội nghị, các đại biểu đã nêu những khó khăn vướng mắc khi đầu tư phát triển du lịch và đề xuất một số giải pháp: Làm thế nào để có nguồn nhân lực có chất lượng, tâm huyết để phát triển du lịch; xây dựng các tua, tuyến du lịch đặc trưng; xác định thị trường thu hút khách du lịch, trong đó trước mắt chú trọng khách nội địa; xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch; phát trển các sản phẩm mới, các sản phẩm lưu niệm đặc trưng của mỗi địa phương…

Kết luận hội nghị, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Phạm Minh Huấn đề nghị trong thời gian tới, các sở, ngành, các huyện, thành phố cần tổ chức triển khai tốt nhiệm vụ phát triển du lịch kết hợp với xã hội hóa, huy động các nguồn lực để phát triển du lịch. Tổ chức có hiệu quả các lớp đào tạo nghiệp vụ du lịch để có nguồn nhân lực chất lượng cho du lịch. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các sở, ngành liên quan tổ chức giới thiệu các sản phẩm du lịch cho khách du lịch trong và ngoài nước trong quý II này; tiếp thu các ý kiến đóng góp tại hội nghị hoàn chỉnh kế hoạch trình UBND tỉnh phê duyệt. Sau khi có kế hoạch, các sở, ngành, huyện, thành phố và ban quản lý các khu, điểm du lịch phải đặt ra chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện.

6. THÔNG TIN DỰ ÁN

Năm 2013, tỉnh Tuyên Quang đầu tư 141 tỷ đồng thực hiện Dự án điều chỉnh bổ sung Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư dự án thủy điện Tuyên Quang.

Trong đó, hơn 45 tỷ đồng hỗ trợ tạo quỹ đất ở, đất sản xuất, đất lâm nghiệp để giao bổ sung cho các hộ dân tái định cư; gần 5 tỷ đồng hỗ trợ đào tạo nghề, khuyến nông, khuyến lâm; số tiền còn lại đầu tư xây dựng các công trình giao thông, hệ thống thủy lợi, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường.


Thực hiện Quyết định 1766 (giai đoạn II) Ban di dân tái định cư của tỉnh rà soát nội dung tuyên truyền thực hiện dân chủ công khai từng khoản trước dân về lợi ích quyền lợi được hưởng của đối tượng tái định cư. Về vốn đầu tư giai đoạn II tập trung vào ổn định đời sống và phát triển sản xuất cho hộ tái định cư. Trong đó, ưu tiên nguồn vốn về đất sản xuất (đất rừng, màu đồi và đất ruộng). Trong năm, Ban di dân các huyện rà soát quỹ đất bố trí quy hoạch nghĩa trang để thực hiện đầu tư. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao tinh thần trách nhiệm và giữ gìn, bảo vệ công trình phúc lợi. Xử lý nghiêm trường hợp phá hoại tài sản chung làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của cộng đồng, nhất là công trình cấp nước sinh hoạt.

Về trang bản đồ