Tỉnh Thái Bình

   Chuyên mục: Bản đồ Việt Nam
Thành viên


làng Cớm Thanh Hương, Thái Bình


1. CON NGƯỜI

Dân số

Tính đến ngày 30/6/2012 dân số toàn tỉnh Thái Bình là 1.952.517 người, trong đó nữ là 989.074.

Ngành nghề truyền thống/ đặc sản

Làng cốm Thanh Hương, Thái Bình

Dù ai đó không thích đồ ngọt đi chăng nữa, nhưng đã nếm bánh cốm Thanh Hương một lần hẳn nhớ mãi hương vị. Những hạt nếp xanh màu lá lúa, thơm nức, ngọt ngào, từ bao đời làm nên thứ bánh ''quốc tuý, quốc hồn'' dân tộc là bánh chưng, bánh dầy. Cái tinh tuý của hạt gạo mới ấy thời kinh tế thị trường vẫn có cơ hội nổi trội giữa trăm ngàn loại bánh ngon, của lạ trong ngoài nước. Bánh cốm Thanh Hương, thành lễ vật ngày ăn hỏi, chạm ngõ nối duyên chồng vợ. Thưởng thức món quà từ hạt gạo quê, nào mấy ai biết rằng, những hạt cốm đó lại có xuất xứ từ làng Thanh Hương, xã Đồng Thanh (Vũ Thư), một xã nằm ven sông Hồng êm ả, vốn thanh bình như tên gọi.

Ai mang nghề làm cốm về Thanh Hương, tôi mang câu hỏi đó theo suốt chiều dài mùi hương nếp man mác đầu làng, cuối thôn nhưng đều nhận đựơc câu trả lời: Từ thời các cụ xưa đã có nghề làm cốm ở nơi đây. Các cụ giã bán tuần rằm, mùng một để thắp hương, trước là cúng tiên tổ, sau là con cháu thụ lộc. Không thể thiếu mỗi rằm tháng 8 đón tết Trung thu, đĩa cốm xanh gói lá sen ăn với chuối tiêu trứng cuốc, hay chục hồng Thanh Hương khi ngắm trăng rằm lồng lộng. Tháng 10 mùa gặt nếp cái hoa vàng, tiếng chày giã cốm rải hương lúa mới khắp làng. Quanh năm, chồng cày, vợ cấy, mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày, đón tay hạt cốm thơm lành cũng là đón mùa vàng no ấm.

Vào cuối chiều, mấy bố con anh Nguyễn Viết Toại chưa ngừng tay đóng cốm vào bao. Gia đình anh gắn bó với nghề làm cốm từ năm 1992, nhưng anh bảo thủa bé, anh từng chạy thau, tức là phục vụ bưng bê ở chỗ giã cốm. Mỗi cối làm cốm, ngoài hai thợ giã loại cối giã chân, một người đảo, một người ngồi bếp rụt củi lửa và đổ thóc vào rang, vẫn phải có một người đứng chạy thúng, bê ra, bê vào phục vụ người giã.

Những năm đó, cốm làm thủ công 100% nên năng suất không thể như bây giờ từng khâu đã bán cơ giới máy móc thay người. Muốn có cốm dẻo ngon, không thể không kén thóc. Nhà nào cấy nếp, thợ làm cốm đến xem tận ruộng, trả giá rồi định ngày gặt. Vì quen nghề, nên phải gặt lúc thóc vừa đỏ đuôi. Non quá khó giã bết dính, già quá, khi rang thóc nở thành nẻ. Gặt về, tuốt thóc đem đãi sạch sẽ, hạt lép, đem rang bằng chảo gang vũm lòng, đun bằng củi. Rang xong cho ngay vào cối giã, rồi sàng sảy sạch. Để tạo màu xanh của hạt cốm có nhiều cách, nhưng chủ yếu vẫn là dùng lá cơm nếp, lá lúa, lá gừng hoặc lá cau, giã lấy nước cốt rồi hoà vào cốm, đảo đều tay.

Anh Toại kể: Hơn mười năm trước, có một người thợ cơ khí đến làng, xem làm cốm rồi nói với mọi người sẽ chế ra máy giã, máy rang, nếu anh đồng ý mua giá tiền như thế, ông sẽ mang máy đến. Tưởng nói đùa cho vui, ai ngờ người đó mang máy đến thật. Sau này, cứ học kiểu cách, khuôn mẫu chiếc máy đầu tiên, rồi thợ khác cứ như thế mà làm, mà cải tiến. Thời điểm đó, anh Toại mua 1,8 triệu đồng/1 máy giã, hơn 1 triệu đồng/máy rang thóc, giờ nguyên vật liệu đắt lên mua trọn bộ khoảng trên 6 triệu đồng. Ba thôn Thanh Hương I, 2,3 có trên chục hộ chuyên đi mua thóc nếp khắp các xã trong tỉnh, hàng ngày cung ứng cho bảy, tám chục máy rang, máy giã. Được ưa chuộng nhất là dòng nếp N87, N97, thóc mẩy, sáng hạt. Thóc già đã phơi nỏ, đem về ngâm nước lã hoặc nước ấm tay trong một đêm. Vớt ra thúng hoặc rá cho ráo nước. Mỗi mẻ rang không nhiều, chỉ miệng bơ đong gạo 8 lạng là vừa. Chảo rang đặt trên bếp than, phía trên chảo có dụng cụ cải tiến, đảo liên tục cho thóc chín đều. Khi nào nghe thấy tiếng nổ tách tách của hạt thóc là xúc ra cho vào máy giã. Cần cối làm bằng gỗ nhóm 4, nhóm 5, có bộ phận cắm điện, để cối giã tự động. Một người ngồi đầu cối dùng 1 đĩa sắt tây đảo liên tục. Sau khi giã cho vào máy gần giống máy sát, thổi hết vỏ trấu và loại các phôi thóc. Để tạo ra thành phẩm sạch hơn, còn phải sàng sảy hoàn toàn thủ công. Từng đó công đoạn mới cho ra hạt cốm mộc, không nhuộm màu. Nếu chủ hàng cần cốm màu vàng thì nhuộm nước dành dành, nghệ, cốm màu xanh dùng màu thực phẩm. Tốt nhất vẫn là dùng nước cốt của lá nếp để nhuộm, vừa thơm vừa dẻo và an toàn. Anh Toại là một trong số 10 đại lý lớn của thôn Thanh Hương I chuyên nhận cốm của các hộ, làm công đoạn cuối sàng sẩy sạch sẽ đóng bao thuê xe đem lên Hà Nội. Mỗi hộ có trên dưới chục mối hàng ở Hà Nội. Họ mua cốm Thanh Hương về chế biến bánh cốm, chè cốm... Cả thôn có 10 đại lý thu mua cốm của 35 máy giã. Anh cho biết, vào mùa cưới hỏi, cứ 4 ngày anh giao 1 tấn hàng, lúc ế cũng phải 3-5 tạ. Nhẩm tính: nếu mỗi hộ cung cấp cho Hà nội 7,5 tấn/tháng, chỉ 10 đại lý ở thôn Thanh Hương I xuất 75 tấn/tháng. Hai thôn Thanh Hương 2 và Thanh Hương 3, làm ít hơn, cộng lại cũng lượng bằng đó, mỗi năm, làng nghề chế biến tiêu thụ chừng trên 2000 tấn thóc, chưa tính những hộ làm bánh cuốn...

Với gần 100 hộ gắn bó với nghề làm cốm quanh năm và chuyên tráng bánh cuốn, làm đậu, làng Thanh Hương nay đã và đang vươn lên thoát khỏi đói nghèo từ chuyển đổi cây trồng vật nuôi, khôi phục nghề truyền thống. Thanh Hương được công nhận là làng nghề chế biến lương thực năm 2004. Trên trục đường về UBND xã, xuất hiện ngày càng nhiều những ngôi nhà cao tầng kiểu dáng Thành phố của những đại lý nghề cốm... Cấp uỷ, chính quyền và nhân dân ở đây rất mong huyện và ngành chức năng của tỉnh giúp bà con xây dựng thương hiệu cho hạt cốm Thanh Hương, để hạt gạo nếp thơm của quê nhà được khách xa gần biết đến.

2. ĐỊA LÝ

Tự nhiên

Tỉnh Thái Bình nằm ở phía đông nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, từ 20º17´ vĩ Bắc đến 20º49´ vĩ Bắc, từ 106º06´ kinh Đông đến 106°39´ kinh Đông, diện tích tự nhiên 1546 km² (năm 2003).

Thái Bình là một miền quê sông nước, được bao bọc bởi ba dòng sông lớn: Phía tây và tây nam là sông Hồng, giáp hai tỉnh Hà Nam và Nam Định; Phía Bắc là sông Luộc, giáp hai tỉnh Hưng Yên và Hải Hương; Phía đông là sông Hóa, giáp Thành phố Hải Phòng; Phía đông là biển cả mênh mông với trên 50 km bờ biển trong vịnh Bắc Bộ. Cùng với ba con sông lớn bao quanh, được thông nguồn với gần 70 km con sông lớn nhỏ, mảnh đất Thái Bình như một hòn đảo nổi và lại một chiếc võng được đan bằng các dòng sông.

Với vị trí đó, Thái Bình là một vùng đất phì nhiêu được phù sa hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp.

Thủy văn 

Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm đón nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển

Sông ngòi

Tỉnh Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nên hàng năm đón nhận một lượng mưa lớn (1.700-2.200mm), lại là vùng bị chia cắt bởi các con sông lớn, đó là các chỉ lưu của sông Hồng, trước khi chạy ra biển. Mặt khác, do quá trình sản xuất nông nghiệp, trải qua nhiều thế hệ,người ta đã tạo ra hệ thống sông ngòi dày đặc. Tổng chiều dài các con sông, ngòi của Thái Bình lên tới 8.492 km, mật độ bình quân từ 5-6km/km2. Hướng dòng chảy của các con sông đa số theo hướng tây bắc xuống đông nam. Phía bắc, đông bắc Thái Bình còn chịu ảnh hưởng của sông Thái Bình.

Hệ Thống sông ngoài đê:

Thái Bình được bao bọc và chia cắt bởi các con sông chính sau:

Phía tây, tây nam và phía nam (đoạn ngã ba sông Luộc đến cửa Ba Lạt) có sông Hồng chảy uốn khúc, quanh co, là nguồn cung cấp nước và phù sa chính cho Thái Bình.

Phía tây bắc là sông Luộc (một chỉ lưu của sông Hồng), đây là sông cung cấp nước cho các huyện Quỳnh Phụ, Hưng Hà.

Phía đông bắc là sông Hóa chảy ra cửa sông Thái Bình.

Sông Trà Lý (một chỉ lưu của sông Hồng) bắt nguồn từ sông Hồng chảy ra biển, chia đôi Thái Bình thành hai khu: Khu bắc và khu nam.

Sông Diêm Hộ, chảy qua một phần huyện Đông Hưng và chia đôi huyện Thái Thụy (phần Thụy Anh, phần Thái Ninh cũ) và chảy ra biển thông qua cống Trà Linh.

Có thể nói Thái Bình như một vùng đất "cù lao" ba bề là song, một bề là biển.

Hệ thống sông trong đê:

Ngoài hệ thống sông ngoài đê. Thái Bình còn có hệ thống sông ngòi trong đê chằng chịt chủ yếu phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng và sinh hoạt của người dân. Sau đây là một số sông nội bộ của tỉnh:

Khu vực bắc Thái Bình:

Sông Tiên Hưng: Vốn là con sông tự nhiên chạy uốn quanh các huyện Hưng Hà và Đông Hưng. Sông dài 51km, rộng 50-100m, tưới tiêu cho các vùng đất ven sông và là đường giao thông thủy quan trọng của vùng này.

Sông Sa Lung: Sông đào, khởi công từ năm 1896 đến năm 1900 thì, dài khoảng 40km, chảy qua các phủ huyện Hưng Nhân, Duyên Hà (nay là Hưng Hà) Tiên Hưng, Đông Quan (nay là huyện Đông Hưng), Thái Ninh nay là huyện Thái Thụy.

Sông Quỳnh Côi: Còn gọi là sông Yên Lộng hay sông Bến Hiệp. Đây là con sông đào xuyên qua một phần huyện Quỳnh Phụ, xuôi xuống Đông Hưng, có chiều dài khoảng 15 km, bắt đầu từ cống Bến Hiệp nối với sông Tiên Hưng ở xã Liên Giang.

Sông Đại Nẫm: Cũng là con sông chạy qua huyện Quỳnh Phụ, dài 16km, bắt nguồn từ cống Đại Nẫm nối với Diêm Hộ.

Sông Diêm Hộ: Là con sông tiêu nước quan trọng nhất trong hệ thống thủy nông ở khu vực bắc Thái Bình. Hầu hết các con sông nội đồng trong khu vực đều đổ ra sông Diêm Hộ. Khi chưa có cống Trà Linh, sông Diêm Hộ trở thành con sông trong đê với chức năng chính là tiêu úng cho các huyện phía bắc Thái Bình.

Sông Thuyền Quan: Là con sông đào, nối với sông Tiên Hưng ở ranh giới xã Đông Giang - Đông Kính, với sông Sa Lung ở xã Đông Vinh, với sông Trà Lý ở ranh giới xã Đông Lĩnh (Đông Hưng) - Thái Hà (Thái Thụy) dài 9km.

Sông Hệ: Nối sông Hóa với sông Diêm Hộ, dài 12km, chạy qua mấy xã thuộc Quỳnh Phụ, Thái Bình.

* Khu vực nam Thái Bình

Sông Cự Lâm: Chảy từ sông Trà Lý ở xã Xuân Hòa qua các xã Hiệp Hòa, Song Lãng, Minh Lãng, Minh Quang, nối với sông Vĩnh Trà ở Thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư. Đoạn sông này dài 14km.

Sông Búng: Chảy qua các xã Hiệp Hòa, Việt Hùng, Dũng Nghĩa, Tân Lập, nối sông Trà Lý với sông Hồng, dài khoảng 13km.

Sông Bạch: Chảy từ cống Nạng (sông Trà Lý) ở ranh giới xã Tân hòa, Phúc Thành uốn lượn qua Tân Phong, Tân Bình (Vũ Thư), phường Tiền Phong, xã Phú Xuân, nối với sông Vĩnh Trà ở phường Phú Khánh Thành phố Thái Bình.

Sông Kiến Giang: Là con sông đào gồm nhiều đoạn khác nhau. Dòng chính nối từ sông Vĩnh Trà ở Thành phố Thái Bình, qua một số xã ở huyện Vũ Thư rồi chảy qua huyện Kiến Xương, Tiền Hải, đổ vào Sông Lân, dài 30km. Đây là con sông quan trọng cho việc tưới tiêu đồng ruộng phía nam Thái Bình và là đường vận tải thủy quan trọng trong khu vực. Có thể nói, nó là xương sống của hệ thống thủy lợi khu nam Thái Bình. Nó có hệ thống sông ngòi, mương máng nối với sông Hồng, sông Trà Lý thông qua các cống. Hầu hết các con sông khác trong khu vực đều có mối liên hệ với sông Kiến Giang, như sông Nguyệt lâm, Dực Dương... Sông Kiến Giang là con sông tương đối đẹp, một nơi có đôi bờ là điểm quần tụ dân cư đông đúc, trù phú, làng mạc xanh tươi.

Sông Nguyệt Lâm: Là sông đào đi từ cống Nguyệt Lâm, lấy nước từ sông Hồng (xã Vũ Bình, huyện Vũ Thư), nối với sông Kiến Giang ở xã Hòa Bình, huyện Kiến Xương chiều dài 13km.

Sông Dực Dương: Cũng là sông đào đi từ cống Dực Dương, lấy nước sông Trà Lý, tại vị trí xã Trà Giang, nối sông Kiến Giang ở xã Bình Minh huyện Kiến Xương dài 13km.

Sông Hương: Nối sông Hồng với sông Kiến Giang, từ xã Bình Thanh huyện Kiến Xương đến đến xã Phương Công huyện Tiền Hải.

Sông Lân: Trước kia là một nhánh của sông Hồng đổ ra biển. Hiện nay nó trở thành con sông trong đê, chạy từ ranh giới xã Hồng Tiến (huyện Kiến Xương) - Nam Hải (Tiền Hải) chảy ròng ra biển. Từ ngày đắp đê, xây dựng cống Lân, nó trở thành con sông nội đồng. Con sông này tưới tiêu nước cho huyện Kiến Xương và Tiền Hải. Cống Lân làm nhiệm vụ ngăn nước mặn và tiêu nước mỗi khi ngập úng nội đồng, đồng thời điều tiết tưới tiêu cho khu vực nam Thái Bình.

Sông Long Hầu: Nối sông Trà Lý với sông Kiến Giang từ xã Đông Quý đến xã Đông Lâm (Tiền Hải).

Quá trình hình thành các con sông lớn nhỏ của Thái Bình là sự kết hợp giữa sự phát triển tự nhiên và nhu cầu hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người. Các con sông tự nhiên được hình thành do quá trình vận động của các dòng chảy, bắt đầu từ thượng nguồn, về phía hạ lưu hướng dòng chảy luôn thay đổi do sông uốn khúc nhiều. Sông Hồng trước đây thường hay thay đổi dòng chảy. Từ khi hình thành hệ thống đê điều, dòng chảy của sông Hồng ổn định gần như diện mạo hôm nay. Hệ thống sông trong đê là kết quả quá trình chinh phục của con người, nhằm hạn chế tác hại của thiên tai, tận dụng các điều kiện tự nhiên để tưới tiêu trong nông nghiệp. Trải qua nhiều thập niên, người nông dân Thái Bình liên tục cải tạo, khơi sâu, nắn dòng các con sông nội đồng với mục đích tưới tiêu thuận lợi và một phần phục vu vận tải đường thủy.

Ao, hồ, đầm

Trên địa bàn Thái Bình không có các hồ, đầm lớn, chủ yếu là các ao nhỏ, nằm xen kẽ với làng xóm hoặc ven đê, ven biển do lấy đất đắp đê hoặc do vỡ đê tạo thành các điểm trũng tích nước. Các ao hồ nhỏ nằm rải rác, xen kẽ các khu dân cư là kết quả của quá trình tạo lập đất ở. Xưa kia, đất được bồi đắp không bằng phẳng, chỗ cao chỗ thấp, người ta đào ao lấy đất đăp nền nhà, tạo thành vườn tược, và tận dụng nguồn nước từ ao hồ quanh nhà để lấy nước sinh hoạt. Vì vậy phần lớn làng xóm, cư dân của Thái Bình (nhà cửa, ruộng vườn) đều gần với ao đầm. Tổng diện tích ao hồ gần 6.575ha, chiếm 4,25% đất đai của tỉnh. Các ao hồ của Thái Bình thường có diện tích không lớn (khoảng 200-300m2). Những năm gần đây, diện tích một số ao hồ được cải tạo, có xu hướng tập trung thành quy mô trang trại để nuôi tôm cá theo quy trình bán công nghiệp. Bước đầu một số ao hồ nuôi tôm cá đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhất là các vùng nuôi tôm ở các ao đầm ven biển (tôm sú, tôm rảo..).

Biển

Biển Thái Bình nằm trong vùng biển vịnh Bắc Bộ, là một phần của Biển Đông. Biển Đông là một biển lớn thông với Thái Bình Dương qua các eo biển rộng.

Vịnh Bắc Bộ nằm ở phía tây bắc biển Đông, thực ra là phần lục địa bị chìm dưới nước biển do đó biển nông, nơi sâu nhất không quá 200m.

Nước ngầm

Thái Bình là bộ phận của tam giác châu thổ sông Hồng, thuộc trầm tích bờ rời Đệ Tứ có nguồn gốc song - biển hỗn hợp. Xét về mặt tổng thể thì trầm tích này có khả năng chứa nước rất lớn, mực nước ngầm nông, dễ khai thác.

Theo tài liệu nghiên cứu về địa chất và thủy văn, vùng này có sự phân đới thủy địa hóa theo phương nằm ngang và phương thẳng đứng như sau:

Phân đới thủy hóa theo phương nằm ngang:

Phân đới thủy hóa theo phương nằm ngang, lấy sông Trà Lý chảy qua giữa tỉnh làm ranh giới: Phía bắc sông Trà Lý gồm các huyện Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ và một số xã thuộc huyện Thái Thụy gần khu vực sông Hóa, nằm trong đới nước ngọt có tổng độ khoáng hóa dao động từ 300-500mg/l. Các tầng chứa nước ngọt rất tốt. Phía nam sông Trà Lý bao gồm các huyện Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải, phần lớn huyện Thái Thụy và Thành phố Thái Bình nằm trong đới nước mặn. Các lỗ khoan cho thấy, nước khoan lên có tổng độ khoáng hóa dao động trong khoảng 600-2.500mg/l, nước thuộc loại Clorua Natri. Do bị nhiễm mặn nên không đạt tiêu chuẩn dùng cho nước sinh hoạt.

- Phân đới thủy hóa theo phương thẳng đứng

Phân đới thủy hóa theo phương thẳng đứng từ mặt đất đến độ sâu 140m bao gồm các tầng cách nước và chứa nước sau:

+ Tầng chứa nước nghèo thuộc hệ tầng Thái Bình

+ Tầng cách nước thuộc hệ tầng Hải Hưng II

+ Tầng chứa ít nước thuộc hệ tầng Hải Hưng II

+ Tầng cách nước thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc I

+ Tầng chứa nước lỗ hổng thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc II

+ Tầng chứa nước trong trầm tích cát - cuội- sỏi hệ Hà Nội

Tài nguyên ngước, khả năng khai thác và hiện trạng sử dụng

Tài nguyên nước mặt

Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nước tham gia vào quá trình hoạt động sống của giới động, thực vật và con người, quyết định sức khỏe cộng đồng, năng suất mùa màng. Trong công nghiệp, nước cũng không thể thiếu trong các ngành sản xuất hóa chất, chế biến nông sản, chế biến dược...

Nước có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống, vì vậy cần khai thác sử dụng, nước một cách khoa học để phục vụ cuộc sống cộng đồng. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước dựa trên đặc tính phân bố trong không gian và theo tính chất thủy động lực.

Tài nguyên nước trong dòng chảy mặt ở Thái Bình rất phong phú. Mật độ sông ngòi dày đặc chứa và lưu thông một lượng nước mặt khổng lồ. Nguồn cung cấp hàng tỷ m3 từ các con sông lớn như sông Hồng, sông Trà Lý, sông Thái Bình, cộng vào đó là lượng nước mưa nhận được hàng năm cũng rất lớn (hàng tỉ tấn). Đây là điều kiện thuận lợi để cư dân sử dụng tài nguyên nước mặt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất ở mọi nơi trong tỉnh. Các dòng chảy mặt đã được sử dụng tưới tiêu cho đồng ruộng thông qua hệ thống thủy lợi: mương, máng tưới tiêu, hệ thống cống tự chảy...

Trên hệ thống đê sông lớn có rất nhiều cống lấy nước từ các con sông tưới cho đồng ruộng, nguồn nước lấy từ sông Hồng, sông Trà Lý, sông Thái Bình..., đem lại nguồn nước tưới cho đồng ruộng về theo đó cung cấp một lượng phù sa đáng kể, giúp cho đồng ruộng của Thái Bình ngày càng thêm màu mỡ.

Dòng chảy mặt của các con sông nội đồng ngoài tác dụng tưới cho đồng ruộng, phục vụ sinh hoạt của cư dân, còn mang theo các chất thải ở thể lỏng chảy ra biển Đông (nước thải sinh hoạt, nước thau chua, rửa mặn đồng ruộng).

Hệ thống dòng chảy mặt, nhất là hệ thống sông ngòi nội đồng chảy quanh co, ngang dọc trên đất Thái Bình làm thành cảnh quan, tạo ra một khung cảnh sông nước, đồng ruộng, vườn cây trái, hài hòa, yên bình, thơ mộng.

Tuy vậy, những năm gần đây do việc sử dụng nguồn tài nguyên nước mặt ở một số nơi không hợp lý và khoa học, việc sử dụng nước mặt thiếu ý thức của một bộ phận dân cư đã dẫn đến việc nguồn nước mặt ở một số nơi bị ô nhiễm, chất lượng nước ở những nơi này thường kém, không đủ tiêu chuẩn nước sinh hoạt. Vì vậy, cần phải giáo dục trong cộng đồng ý thức bảo vệ nguồn nước, tài nguyên nước mà thiên nhiên ban tặng cho con người.

Để bảo vệ tốt tài nguyên nước mặt, ngoài giáo dục cộng đồng ý thức bảo vệ nguồn nước, cần phải có các biện pháp đồng bộ:

- Quản lý chặt chẽ các nguồn nước thải công nghiệp, nước sinh hoạt (nhất thiết phải qua xử lý các chất độc hại trước khi đổ ra hệ thống sông ngòi.

- Khơi thông các dòng chảy bằng biện pháp nạo vét các dòng sông nội đồng thường xuyên. Hạn chế việc lấn chiếm các hệ thống sông ngòi gây cản trở dòng chảy.

- Phối hợp điều tiết dòng chảy thông qua hệ thống tưới tiêu thật nhịp nhàng và khoa học.

- Rác thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt ở các khu đông dân cư, cần gom xử lý, không vứt bừa bãi xuống các dòng sông gây ô nhiễm, làm tắc nghẽn dòng chảy.

- Trong sản xuất nông nghiệp, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phải tuân thủ sự chỉ đạo của cơ quan chuyên môn và phải kiểm tra chặt chẽ, không để thuốc bảo vệ thực vật làm ô nhiễm nguồn nước mặt.

- Các nguồn nước dùng trong sinh hoạt của cộng đồng cần được xử lý, đảm bảo nước sạch cho sinh hoạt.

Tài nguyên nước ngầm

Như trên đã cho thấy, tài nguyên nước ngầm tầng mặt và tầng sâu của Thái Bình tương đối phong phú, song đa phần không thể sử dụng ngay được cho sinh hoạt.

Các tầng chứa nước nông đều có hàm lượng sắt cao, vượt quá tiêu chuẩn cho phép; Để dùng được phải qua xử lý, khử bớt sắt mới đảm bảo tiêu chuẩn cho phép. Hầu hết các giếng khoan đã có biểu hiện ô nhiễm các chất hữu cơ do tàn tích của các loài thực vật, có xuất hiện các ion độc hại như NH4, NO2, P04, S...

Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích cát - cuội- sỏi hệ tầng Hà Nội sâu 80-140m có khả năng chứa nước lớn, có giá trị cung cấp cả về số lượng lẫn chất lượng cho những trạm xử lý và cung cấp nước trung bình và nhỏ. Do tầng chứa nước ở dưới sâu nên khả năng gây ô nhiễm nguồn nước trong tầng này được bảo vệ bởi các tầng chứa nước phía trên. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn khi khai thác và sử dụng, cần lưu ý biện pháp bảo vệ và khai thác với mức độ hợp lý.

Nước ngầm tầng mặt của Thái Bình, về mùa khô chỉ đào sâu xuống 1-1,5m, mùa mưa chỉ đào sâu chưa đến 1m. Tuy nhiên, đây chỉ là nước ngầm trên mặt, nếu đào sâu xuống sẽ gặp nước mặn và chua, độ trong không đảm bảo, không thể dùng trong sinh hoạt ngay được mà cần phải xử lý. Càng sâu trong đất liền (Quỳnh Phụ, Hưng Hà) thì mức độ mặn, chua giảm hơn.

Tiềm năng khoáng sản

Tỉnh Thái Bình có các khoáng sản: Khí đốt, than nâu, titan (ilmenit), sét gốm, sét gạch ngói, nước khoáng nóng, kết quả nghiên cứu cụ thể như sau:

Mỏ khí đốt

Khu mỏ khí đốt Tiền Hải thuộc địa phận huyện Tiền Hải. Đây là mỏ khí đầu tiên đã được khai thác ở Việt Nam. Mỏ khí đốt Tiền Hải là mỏ khí nhỏ, địa tầng, áp suất vỉa trung bình, cấu trúc địa chất phức tạp. Kết quả nghiên cứu tại các giếng khoan thăm dò và khai thác khí cho thấy: Mỏ khí đốt Tiền Hải có 13 vỉa khí có giá trị công nghiệp, nằm trong phụ hệ tầng Tiên Hưng dưới (N31th1) và giữa (N31th2). Các thân khí của mỏ Tiền Hải hầu hết có dạng vòm, dạng màn chắn thạch học, dạng hỗn hợp(vòm + màn chắn thạch học). Vỉa khí sâu nhất nằm cách mặt đất 1178m, vỉa nông nhất cách mặt đất 468m. Công ty khai thác Thái Bình đã thực hiện khoan 12 giếng khoan thăm dò và khai thác khí. Mỏ bắt đầu được khai thác từ tháng 7/1981. Khí của mỏ là khí cháy cacbuahydro không có thành phần khí hại như H2S, không có heeli, hàm lượng Nito cao, có vỉa khí chứa Condensat (khí nặng), chứa khí khô hoàn toàn. Mỏ khí đốt Tiền Hải được khai thác phục vụ cho Khu công nghiệp Tiền Hải gồm 16 doanh nghiệp (sản xuất xi măng trắng, gạch ốp lát, gạch men, sứ mỹ nghệ xuất khẩu, thủy tinh..)

Than nâu

Điểm than nâu dưới lòng đất các huyện Tiền Hải và Kiến Xương, diện phân bố than được kẹp bởi 2 đứt gãy sau: Sông Chảy và Vĩnh Ninh kéo dài theo hướng tây bắc đông nam (đứt gãy Vĩnh Ninh nằm kẹp giữa đứt gãy sông Chảy và sông Lô). Diện tích chứa than là hố sụt địa hào neogen dài 70km, rộng 7-10km (trung bình là 8km). Các vỉa thấu kính than nâu nằm trong hệ tầng Tiên Hưng (thuộc đủ ba hệ tầng dưới, giữa, trên, nằm ở độ sâu 500-1200 m. Khu vực chứa than là nếp lồi thoải có phương thức kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam cách tây nam dốc 5º-10º, cánh Đông Bắc dốc 30º-32º. Than có cấu tạo dạng lớp, vỉa, thấu kính không liên tục. Số vỉa than có khoảng 50-58 vỉa, chiều dày vỉa than từ 1m (Tiền Hải) đến 5m (Kiến Xương). Than có chất lượng tốt, màu nâu đen, ánh nhựa, rắn chắc, cấu tạo dạng khối, nghèo tro, nghèo lưu huỳnh, nhiệt lượng tương đối cao, khả năng bốc nóng bốc cháy khó. Đây là loại than nâu lửa dài, nhãn hiệu b2-b3, dùng trong công nghệ hóa học, công nghệ xi măng và làm phối liệu trong luyện cốc. Tài nguyên dự báo cấp p2 là 47 triệu tấn. Điểm quặng có triển vọng, tuy vậy than phân bố ở quá sâu nên điều kiện khai thác khó khăn.

Titan(ilmenit) sa khoáng ven biển

Sa khoáng ven biển đều có tuổi Hacocen có các nguồn khác nhau.

Cửa sông Trà Lý, cửa sông Hồng: Độ sâu lớp đất từ 1-1,5m cát màu xá, hạt nhỏ, phần trên có các ititan sa khoáng hàm lượng nghèo (từ 600-3580/cm3). Nguồn gốc thành tạo là song - biển – đầm lầy.

Bờ biển và đồng bằng ven biển từ cửa sông Thái Bình đến sông Hồng: Thành phần là các hạt nhỏ, hạt vừa, sa khoáng màu xám nâu, xám vàng. Titan sa khoáng hàm lượng nghèo từ (vài trăm g/m3 đến 5.000g/cm3). Nguồn gốc thành tạo là tích tụ biển.

Cồn Thái Ninh (cửa sông Trà Ly): Từ 0-0,5m cát hạt nhỏ, xám nâu, xám vàng, chứa titan sa khoáng hàm lượng nghèo từ (600-1000g/m3); từ 0,5 -1,3m cát màu xám đen, xám nâu hạt nhỏ phân lớp ngang, chứa titan sa khoáng hàm lượng cao (19-20kg/m3) từ 1,3m trở xuống cát màu xám vàng, hạt nhỏ đến trung bình chứa titan sa khoáng hàm lượng nghèo. Nguồn gốc tành tạo là biển - biển gió.

Sét gốm

Đến nay, Thái Bình mới tìm thấy 1 điểm sét gốm Cộng Hòa. Điểm quặng thuộc địa phận 2 xã Hòa Tiến và Canh Tân huyện Hưng Hà. Trung tâm điểm sét gốm Cộng Hòa cách huyện lỵ Hưng Hà 7km về phía tây bắc. Điểm quặng được Thủy lợi Thái Bình phát hiện năm 1992. Sét gốm Cộng Hòa thuộc hệ tầng Hải Hưng trên, nguồn gốc biển. Thân sét gốm dài 4900m, rộng 50-1650m (trung bình 730), dày 0,8-1,2m (trung bình 1m). Mặt cắt khu vực điểm quặng như sau:

0-0,3m lớp đất trồng

0,3-0,5m sét bột, bột sét màu xám nâu, xám vàng. Lớp này sử dụng sản xuất gạch.

0,5-1,7m sét màu trắng, xám trắng, phớt vàng, hạt mịn, ngấm nước dẻo, dễ tạo hình, sét xốp nhẹ. Đây là lớp sản xuất sét gốm

1,7-2,8m sét màu xám xanh, hạt mịn ngấm nước dẻo.

2,8-4,0m cát bột, bột cát sét, màu xám, xám đen, độ dẻo kém.

Mẫu chế thử loại sét gốm Cộng Hòa cho kết luận: Có thể dùng làm đồ gốm, đồ sành không tráng men nhu chum vại với các kích cỡ khác nhau không cần phối liệu có chất lượng cao. Dùng 50% sét Cộng Hòa trộn với 50% sét kaolin, sản xuất được loại bình hoa da lươn có chất lượng tốt.

Tài nguyên dự báo cấp p2 là 9,3 triệu tấn. Cần mở rộng diện tích tìm kiếm thêm các thân quặng tương tự ở phụ hệ tầng Hải Hưng nguồn gốc biển.

Sét gạch ngói

Sét gạch ngói Kim Trung: Điểm quặng thuộc xã Kim Trung huyện Hưng Hà, cách thị trấn huyện khoảng 1km. Sét gạch ngói Kim Trung có nguồn gốc sông, phụ hệ tầng Thái Bình trên. Sét gạch ngói phân bố ven bờ sông Tiên Hưng về phía tây bắc - đông nam. Mỏ sét gạch ngói có chiều dài 6000-7000m, rộng 1000-3500m, dày 0,9-1,1m. Lớp đất khai thác sản xuất làm gạch ngói được lấy lên từ độ sâu 0,4-1,5m. Sét có chất lượng tốt. Hiện nay xí nghiệp gạch ngói Kim Trung và nhân dân đang khai thác sử dụng. Quy mô điểm quặng khá lớn. Xí nghiệp gạch ngói Kim Trung sản xuất với sản lượng 3,5-5 triệu viên gạch và 2 triệu viên ngói/năm.

Ngoài ra còn một số điểm sét gạch ngói ở Thái Bình có nguồn gốc trầm tích hỗn hợp sông biển, nguồn gốc sông ở huyện Kiến Xương, ven sông Hồng, sông Trà Lý, sông Kiến Giang.

Nước khoáng nóng

Nước khoáng nóng Tiền Hải: Thuộc xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà. Năm 1994 tổ chức UNICEF khi khoan tìm nước sinh hoạt cho tỉnh Thái Bình đã phát hiện ra điểm nước khoáng nóng này. Nước khoáng nóng gặp ở độ sâu 64-65m (chưa khống chế hết độ sâu). Các lỗ khoan ở Hưng Hà đã gặp nước khoáng nóng trong trầm tích Đệ Tứ. Thứ tự địa tầng từ trên xuống gồm:

+ Hệ tầng Thái Bình: Bột sét, bột sét lẫn cát mịn màu xám nâu, xám vàng dày 6-8m.

+ Hệ tầng Hải Hưng: Bột sét, sét xám nâu, xám trắng phớt vàng, rải rác có các ổ, thấu kính sét xám trắng, hạt mịn, chất lượng tốt, ở phần dưới lẫn mùn thực vật màu xám đen. Dày 5-7m.

+ Hệ tầng Vĩnh Phúc: Sét bột, bột sét lẫn cát màu xám nâu, xám vàng, loang lổ, cát sạn sỏi thành phần đa khoáng dày 15-17m.

+ Hệ tầng Hà Nội: Cát hạt mịn, hạt thô, cuộn sạn sỏi thành phần đa khoáng, rải rác có lẫn sét bột, màu xám nâu, xám vàng. Đây là tầng khoáng nóng. Tầng có chiều dày từ 10-63,5m.

Trong vùng có nước khoáng nóng phát triển hai hệ thống đứt gãy sâu liên quan đến nguồn nước khoáng nóng, hướng đứt gãy là á kinh tuyến và tây bắc- đông nam. Khu vực phân bố nước khoáng nóng có phương kéo dài tây bắc- đông nam, dài2250m, rộng120-1000m (trung bình là 600m). Tổ chức UNICEF khoan 17 lỗ khoan, có 10 lỗ khoan gặp nước khoáng này, 4 lỗ khoan có nước nóng nhất (nhiệt độ 42º-50ºC), các lỗ khoan còn lại nhiệt độ thấp hơn. Nước không màu, không mùi vị, độ PH 6,5-7,2 (trung bình 6,86). Lưu lượng nước đo được khi bơm hút trong lỗ khoan từ 0,25 - 0,61 lít/giây. Nước khoáng nóng có vị nhạt, là loại bicacbonatnatri hoặc bicacbonatnatri canxi.

Độ tổng khoáng hóa 0,47-0,5g/l. Nước có nguồn gốc liên quan với đứt gãy sâu đang hoạt động. Nước khoáng nóng Duyên Hải có chất lượng tương tự với nước khoáng nóng Tiền Hải. Đây là nguồn nước có triển vọng về quy mô, chất lượng nước, nước nằm ở độ sâu không lớn, do đó cần có đầu tư nghiên cứu chi tiết hơn để sớm khai thác nguồn nước quý giá này.

Nước khoáng nóng Tiền Hải: Thuộc xã Đông Cơ, huyện Tiền Hải. Năm 1975, Công ty Khai thác khí Thái Bình (nay là Xí nghiệp Dầu khí Thái Bình) đã tiến hành khoan lỗ khoan 61 tìm kiếm thăm dò dầu khí đến dộ sâu 2400m. Từ đáy lên gặp các vỉa T1 đến T13 chứa khí và nước khoáng nóng, trong đó có 4 vỉa chứa khí.

Sau khi kết thúc công tác khai thác khí, Xí nghiệp Dầu khí Thái Bình (XNDKTB) đã tiến hành lấp kín vỉa khí, bắn mìn mở vỉa khí nước khoáng. Nước khoáng được khai thác ở vỉa có độ sâu từ 421-397m (24m) chiếm 63% chiều dày vỉa. Nhiệt độ nước của vỉa có độ sâu 380m là 41ºC, nhiệt độ nước trên miệng giếng là 34º5. Vỉa nước khoáng là vỉa có áp, áp suất vỉa đo được ban đầu là 41,391atm. Nước khoáng là loại clorua bicacbinat kiềm, lưu lượng thấp, độ tổng khoáng hóa thấp 1,17g/l, độ PH 8,2.

Năm 1993-1996, nước khoáng chỉ khai thác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho cán bộ, công nhân viên XNDKTB. Từ tháng 12-1996 đến nay, nước khoáng khai thác phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Tính từ 1996-2000, lượng nước đã khai thác phục vụ sinh hoạt, bán lẻ, chủ yếu là bán cho nhà máy nước khoáng vital, Công ty bia Việt Hà. Theo thiết kế ban đầu, giếng khoan 61 có thể cấp được 30m3/ngày đêm. Tổng sản lượng khai thác từ đầu năm 1993 đến năm 2000, ước tính 29 nghìn m3.

Đặc điểm khí hậu

Khí hậu Thái Bình mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa. Thái Bình có nhiệt độ trung bình 23º-24ºC, tổng nhiệt độ hoạt động trong năm đạt 8400-8500ºC, số giờ nắng từ 1600-1800h, tổng lượng mưa trong năm 1700-2200mm, độ ẩm không khí từ 80-90%. Gió mùa mang đến Thái Bình một mùa đông lạnh mưa ít, một mùa hạ nóng mưa nhiều và hai thời kỳ chuyển tiếp ngắn.

Khí hậu Thái Bình mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa. Thái Bình có nhiệt độ trung bình 23º-24ºC, tổng nhiệt độ hoạt động trong năm đạt 8400-8500ºC, số giờ nắng từ 1600-1800h, tổng lượng mưa trong năm 1700-2200mm, độ ẩm không khí từ 80-90%. Gió mùa mang đến Thái Bình một mùa đông lạnh mưa ít, một mùa hạ nóng mưa nhiều và hai thời kỳ chuyển tiếp ngắn.

Là tỉnh đồng bằng nằm sát biển, khí hậu Thái Bình được điều hòa bởi hơi ẩm từ vịnh Bắc Bộ tràn vào. Gió mùa đông bắc qua vịnh Bắc Bộ tràn vào. Gió mùa đông bắc qua vịnh Bắc Bộ vào Thái Bình làm tăng độ ẩm so với những nơi khác nằm xa biển. Vùng áp thấp trên đồng bằng Bắc Bộ về mùa hè hút gió biển bào làm bớt tính khô nóng ở Thái Bình. Sự điều hòa của biển làm cho biên độ nhiệt tuyệt đối ở Thái Bình thấp hơn ở Hà Nội 5ºC.

Ngay trong phạm vi tỉnh, sự điều hòa nhiệt ẩm ở vùng ven biển Thái Thụy, Tiền Hải rõ rệt hơn những vùng xa biển. Biên độ nhiệt trung bình trong năm ở Diêm Điền là 12,8ºC, còn ở thành phố Thái Bình là 13,1ºC. Tuy nhiên do diện tích nhỏ, gọn và địa hình tương đối bằng phẳng nên sự phân hóa theo lãnh thổ tỉnh không rõ rệt.

3. THÔNG TIN CHÍNH PHỦ

Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tỉnh Thái Bình

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 39/NQ-CP ngày 28/3/2013 về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) tỉnh Thái Bình

Theo đó, đến năm 2020, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Thái Bình là 157.004 ha, giữ nguyên diện tích so với năm 2010; diện tích đất phi nông nghiệp tăng 12.937 ha, trong đó: đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp tăng 202 ha; đất phát triển hạ tầng tăng 6.167 ha.

Giai đoạn từ 2011-2020, diện tích đất chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp là 12.860 ha; diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho các mục đích là 489 ha.

Đồng thời, Chính phủ phê duyệt kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) tỉnh Thái Bình với các chỉ tiêu: Phân bổ diện tích các loại đất; kế hoạch chuyển mục đích sử dụng đất; kế hoạch đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng, chi tiết từng năm từ 2011-2015.

Chính phủ cũng giao UBND tỉnh Thái Bình căn cứ vào Nghị quyết này, thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

1. Tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; rà soát quy hoạch của các ngành, lĩnh vực có sử dụng đất cho phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được Chính phủ xét duyệt; việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải thống nhất chặt chẽ từ cấp tỉnh đến cấp xã, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tỉnh; có giải pháp cụ thể để huy động vốn và các nguồn lực khác để thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của Tỉnh;

2. Khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản nhằm bù lại phần diện tích đất nông nghiệp do bị chuyển mục đích sử dụng;

3. Xác định ranh giới và công khai diện tích đất trồng lúa, rừng phòng hộ cần bảo vệ nghiêm ngặt; bảo đảm lợi ích giữa các khu vực có điều kiện phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ với các khu vực giữ nhiều đất trồng lúa; tăng đầu tư hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, xây dựng các cơ sở bảo quản, chế biến, tiêu thụ lúa hàng hóa tại địa phương;

4. Chủ động thu hồi đất theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, trong đó cần phải thu hồi cả phần diện tích đất bên cạnh công trình kết cấu hạ tầng, vùng phụ cận để tạo nguồn vốn cho phát triển, tạo quỹ đất đầu tư công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Đồng thời, ưu tiên cho người bị thu hồi đất được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng (tái định cư tại chỗ) theo quy định của pháp luật. Đẩy mạnh việc đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;

5. Quản lý sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhất là khu vực sẽ chuyển mục đích sử dụng đất; tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ quy hoạch phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp phải theo kế hoạch, tiết kiệm và hiệu quả; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất đai theo quy hoạch nhằm ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các trường hợp đã được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng;

6. Định kỳ hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh có báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để Chính phủ tổng hợp báo cáo Quốc hội.

Tổng thanh tra Chính phủ làm việc với UBND tỉnh Thái Bình

Sáng 15/3, đồng chí Huỳnh Phong Tranh - Ủy viên TƯ Đảng, Tổng thanh tra Chính phủ cùng đoàn công tác của Thanh tra Chính phủ đã có buổi làm việc với UBND tỉnh Thái Bình về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và công tác phòng, chống tham nhũng. Đồng chí Trần Cẩm Tú - Ủy viên TƯ Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Phạm Văn Sinh - Chủ tịch UBND tỉnh, đồng chí Nguyễn Hồng Diên - Phó bí thư thường trực Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh tiếp và làm việc với đoàn.

Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Phạm Văn Sinh - Chủ tịch UBND tỉnh đã báo cáo khái quát với Đoàn về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong năm 2011, đặc biệt là kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và phòng chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh.

Năm 2011, UBND tỉnh Thái Bình đã chỉ đạo Thanh tra tỉnh xây dựng kế hoạch công tác thanh tra. Nâng cao chất lượng thực thi công vụ, xây dựng đội ngũ công chức, viên chức thanh tra kỷ cương, trách nhiệm, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phối hợp với các cấp, các ngành tăng cường công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, đặc biệt là trong các lĩnh vực về kinh tế xã hội, các nội dung liên quan đến chính sách đền bù hỗ trợ giải phóng mặt bằng và các cuộc thanh tra kinh tế xã hội tại cơ quan đơn vị đã kịp thời phát hiện, xử lý sai phạm. Đồng thời tích cực triển khai và thực hiện có hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng.

Thay mặt Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, đồng chí Trần Cẩm Tú - Ủy viên TƯ Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ phát biểu làm rõ thêm những kết quả đã đạt được trong công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo trên địa bàn tỉnh thời gian qua. Đồng chí cũng mong rằng Thanh tra Chính phủ tiếp tục quan tâm chia sẻ, giúp đỡ và hỗ trợ để Thái Bình thực hiện tốt các nhiệm vụ công tác thanh tra, phòng chống tham nhũng trong thời gian tới.

Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh đánh giá cao kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng của Thái Bình. Đồng chí yêu cầu tỉnh cần tiếp tục quan tâm giải quyết tốt vấn đề ngay từ cơ sở, thực hiện tốt các kết luận sau thanh tra, đẩy mạnh thanh tra trong lĩnh vực quản lý đất đai, tăng cường đối thoại giải quyết đơn thư khiếu nại của công dân, không để tồn đọng đơn thư kéo dài. Góp phần ổn định chính trị và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.

4. THÔNG TIN UBND TỈNH/THÀNH PHỐ

Bản đồ tỉnh Thái Bình

UBND tỉnh nghe báo cáo phương án điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

Chiều ngày 11/4, UBND tỉnh tổ chức họp nghe đơn vị tư vấn đề xuất phương án điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội tỉnh, quy hoạch chung xây dựng Thành phố Thái Bình đến năm 2030 và quy hoạch chung khu kinh tế ven biển đến năm 2030.

Đồng chí Phạm Văn Ca, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh chủ trì cuộc họp.

Dựa trên quy hoạch tổng thể phát triển KT- XH tỉnh Thái Bình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2011, Viện nghiên cứu tổng hợp Nhật Bản đã đề xuất phương án điều chỉnh theo 3 bước: Lập chiến lược tăng trưởng trên cơ sở phân tích thế mạnh và môi trường vĩ mô của tỉnh, từ đó điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển KT- XH và lập kế hoạch thực hiện.

Về quy hoạch chung xây dựng Thành phố Thái Bình đến năm 2030 đã được UBND tỉnh phê duyệt, Công ty TNHH NIKKEN (Nhật Bản) đề xuất cần duy trì diện tích đất nông nghiệp để tạo cảnh quan và bảo vệ môi trường; chú ý quy hoạch hạ tầng đô thị để đáp ứng nhu cầu phổ cập ô tô và xây dựng hệ thống giao thông công cộng hiện đại với phương tiện chủ đạo là tàu điện. Ngoài ra, đơn vị tư vấn cũng đề xuất phương án quy hoạch chung khu kinh tế ven biển đến năm 2030 với phạm vi quy hoạch gần 31.000ha.

Sau khi nghe đại diện các ngành chức năng tham gia đóng góp ý kiến, phát biểu kết luận đồng chí Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh ghi nhận sự chuẩn bị của các đơn vị tư vấn. Đồng chí lưu ý các quy hoạch cần phải cập nhật và phù hợp với quy hoạch vùng cũng như quy hoạch chuyên ngành khác đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, gợi ý các nhà tư vấn cần phối hợp với các đơn vị trong nước và trong tỉnh để xây dựng quy hoạch. Đồng chí yêu cầu sản phẩm quy hoạch phải tạo được điểm nhấn và sự khác biệt giữa Thái Bình với các tỉnh, thành phố khác và trả lời được câu hỏi Thái Bình cần đi theo hướng nào, dựa vào ngành, lĩnh vực gì để phát triển KT- XH nhanh và bền vững. Đồng thời, giao các ngành chức năng của tỉnh cung cấp đầy đủ thông tin để đơn vị tư vấn hoàn thiện, bổ sung bản đề xuất phương án quy hoạch trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt để triển khai xây dựng quy hoạch cụ thể.

5. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Theo báo cáo của Sở Công Thương Thái Bình, chỉ số sản xuất Công nghiệp tháng 4 năm 2013 tăng 8,58% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó tăng mạnh nhất là các ngành: Ngành Khai khoáng tăng 13,53%; Ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,5%; Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và điều hòa không khí tăng 3,3%; Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,12%.

4 tháng đầu năm 2013, một số sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp tăng so với cùng kỳ năm 2012 như: Khai thác cát tự nhiên các loại; tôm đông lạnh; Khăn các loại; Áo khoác các loại; Bia lon; Bộ Com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket; Polyaxetal, polyester khác và nhựa epoxy; Xơ staple tổng hợp; Gạch đất nung; Sứ vệ sinh; Điện thương phẩm; Nước uống...

Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm như: Khí tự nhiên; Thịt lợn đông lạnh; Tấm lát đườngvà vật liệu lát, gạch ốp lát tường và lát nhà; Sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc; Tàu đánh bắt thủy hải sản, các loại tàu chuyên dụng; Thức ăn cho gia súc; gia cầm;..

Tổng mức l­ưu chuyển hàng hoá bán lẻ tháng 4 năm 2013 ư­ớc đạt 1.861,3 tỷ đồng, tăng 1,16% so với tháng trước, tăng 8,84% so với cùng kỳ năm 2012.Trong đó: Kinh tế nhà nước ước đạt 161,6 tỷ đồng, tăng 10,63%; kinh tế cá thể ước đạt 1.390,4 tỷ đồng tăng 8.86%; kinh tế tư­ nhân ước đạt 308,5 tỷ đồng, tăng 7,84%; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 0,76 tỷ đồng giảm 1,30%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng năm 2013 tăng 4,3% so với cùng kỳ; Tháng 4 năm 2013 chỉ số giá tiêu dùng giảm 0,37% so với tháng trước. Số nhóm hàng tăng so với tháng 12/2012 bao gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống; Đồ uống và thuốc lá; May mặc, mũ nón, giầy dép; thiết bị và đồ dùng gia đình; văn hóa giải trí và du lịch; hàng hóa và dịch vụ khác; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD; giá USD. Một số nhóm hàng giảm gồm: Giao thông; giá vàng;

Tháng 4 kim ngạch xuất khẩu ước đạt 50,03 triệu USD tăng 2,39 % so với tháng trước và tăng 23,8% so với cùng kỳ năm 2012. Kinh tế nhà nước giảm 12,3%, kinh tế tư nhân tăng 13,9%, kinh tế có vồn đầu tư nước ngoài giảm 17,8%. Kim ngạch nhập khẩu khẩu ước đạt 42,13 triệu USD, giảm 15,86% so với tháng trước và giảm 15,81 % so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó kinh tế nhà nước giảm 20,9%, kinh tế tư nhân giảm 22,5 %, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài giảm 4,12%.

Trong tháng qua, lực lượng QLTT đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn. Chú trọng kiểm tra việc sản xuất, chế biến, vận chuyển, kinh doanh hàng lậu, hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm. Kết quả kiểm tra trong tháng là 125 vụ, xử lý: 98 vụ; số tiền thu phạt hành chính là 115 triệu đồng. 4 tháng đầu năm 2013 tổng số lượt kiểm tra ước đạt 639 lượt, tổng số vụ xử lý 421 vụ, tổng số tiền thu phạt hành chính là 773.518.000 đồng.

6. THÔNG TIN DỰ ÁN

Danh mục dự án gọi vốn đầu tư vào Thái Bình giai đoạn (2009 - 2015).

Về trang bản đồ