Tỉnh Sơn La

   Chuyên mục: Bản đồ Việt Nam
Thành viên


Cao nguyên Mộc Châu, Sơn La


1. CON NGƯỜI

Dân số - Dân tộc: Mảnh đất Sơn La là nơi hội tụ sinh sống lâu đời của 12 dân tộc anh em: Mông, Dao, Kinh, Mường, Khơ Mú, La ha, Kháng, Xinh Mun, Lào, Hoa, Tày, Thái. Mỗi dân tộc với những nét riêng tạo nên sự giao hòa giữa các văn hóa. 

Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Sơn La có 882.077 người. Trong đó, số lao động trên địa bàn tỉnh là 407.246 lao động, chiếm 46,1% dân số. Tỉnh Sơn La có 12 dân tộc là chủ yếu. Ðông nhất là dân tộc Thái có 482.985 người, chiếm 54,7%, dân tộc Kinh có 153.646 người, chiếm 17,42%, dân tộc Mông có 114.578 người, chiếm 13%, dân tộc Mường có 71.906 người, chiếm 8,15% và các dân tộc khác chiếm 6,73%.

Dân số trung bình tính đến tháng 12 năm 2010 là 1.092.700 người (Mục tiêu 1.100.000 người).

Dân tộc Thái

Tết đồng bào Mông ở Sơn La

Dân tộc Dao ở Sơn La 

 

Thiếu nữ dân tộc Tày

Lễ hội dân tộc Tày

Trình độ dân trí: Tính đến năm 2002, đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 10/10 huyện, thị, 201/201 xã, phường; tỷ lệ người biết chữ chiếm 70,8%. Số học sinh phổ biến thông niên học 2001 - 2002 là 220.430 em, số giáo viên là 10.269 người. Số thày thuốc có 2.475 người; bình quân y, bác sỹ là 26 người/1 vạn dân.

2. ĐỊA LÝ

Vị trí địa lý

Sơn La là tỉnh miền núi cao nằm ở phía tây bắc Việt Nam trong khoảng 20039’ – 22002’ vĩ độ Bắc và 103011’ – 105002’ kinh độ Đông.


Phía Bắc giáp hai tỉnh Yên Bái, Lào Cai.

Phía Đông giáp Hòa Bình, Phú Thọ.

Phía Tây giáp Lai Châu, Điện Biên.

Phía Nam giáp Thanh Hóa.

Sơn La có 250 km đường biên giới với nước bạn Lào.

Thị xã Sơn La cách thủ đô Hà Nội 320 km về phía tây bắc.

Diện tích tự nhiên 14.055 km2, chiếm 4,27% diện tích cả nước.

Địa hình

Sơn La có độ cao trung bình 600 – 700 m so với mực nước biển. Địa hình của Sơn La bị chia cắt và tạo thành ba vùng sinh thái: Vùng trục quốc lộ 6, vùng lòng hồ sông Đà và vùng cao biên giới. Riêng hai cao nguyên lớn Mộc Châu và Nà Sản với độ cao hàng trăm mét đã tạo nên nét đặc trưng cho địa hình Sơn La.

Trong đó:

- Cao nguyên Mộc Châu: Cao 1.050 m so với mực nước biển, mang đặc trưng của vùng khí hậu cận ôn đới có nhiệt độ trung bình hàng năm là 180C. Đất đai phì nhiêu, phù hợp với trồng cây công nghiệp như chè, cây ăn quả, chăn nuôi bò sữa, các loại gia súc ăn cỏ và phát triển du lịch.


Mộc Châu, Sơn La

- Cao nguyên Nà Sản: Cao 800 m so với mực nước biển, đất đai phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp như mía, cà phê, dâu tằm và cây ăn quả.

Khí hậu

- Khí hậu Sơn La chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9.

- Nhiệt độ trung bình năm 21,4oC (nhiệt độ trung bình cao nhất là 27oC, thấp nhất trung bình là 16oC).

- Lượng mưa trung bình hàng năm 1.200 - 1.600mm.

- Độ ẩm không khí trung bình là 81%.

Tài nguyên đất đai

Sơn La có diện tích tự nhiên đứng thứ 5/64 tỉnh, thành phố. Trong đó, diện tích đất đang sử dụng chiếm 39,08%. Đất đai màu mỡ, tầng canh tác dày với nhiều loại thổ nhưỡng cho phép phát triển nhiều loại cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Diện tích đất chưa sử dụng và sông suối chiếm 60,92. Quỹ đất nông nghiệp rất hạn chế, diện tích bình quân đạt 0,2 ha/người.

Quỹ đất để phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, cây ăn quả có diện tích 23.520. Quỹ đất để phát triển đồng cỏ phục vụ chăn nuôi có diện tích 1.167 ha.

Số liệu thống kê đất đai (2009):

Tổng diện tích: 1.417.444 ha

- Đất nông nghiệp: 823.216 ha

- Đất sản xuất nông nghiệp: 247.684 ha

- Đất lâm nghiệp có rừng: 572.859 ha

- Đất nuôi trồng thuỷ sản: 2.589 ha

- Đất nông nghiệp khác: 84 ha

- Đất phi nông nghiệp: 48.233 ha

- Đất ở: 6.954 ha

- Đất chuyên dùng: 17.688 ha

- Đất sông, suối và mặt nước chuyên dùng: 20.747 ha

- Đất phi nông nghiệp khác: 2.844 ha

- Đất chưa sử dụng: 702.740 ha

. Đất bằng:

. Đất đồi núi: 490.968 ha

. Núi đá không có rừng cây: 55.027 ha

Tài nguyên nước

Tài nguyên nước mặt của toàn tỉnh Sơn La hàng năm vào khoảng 19 tỷ m3 chủ yếu từ nguồn nước mưa tích trữ vào hai hệ thống sông chính là: sông Đà và sông Mã.

- Sông Đà bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc có lưu vực ở thuộc tỉnh Sơn La là 9.844 km2, đoạn chảy qua Sơn La dài 250 km, tổng lượng nước đến công trình thủy điện Sơn La là 47,6.109m3.

- Sông Mã bắt nguồn từ huyện Điện Biên và Tuần Giáo - Lai Châu. Đoạn chảy qua Sơn La dài 93 km, có diện tích lưu vực 3.978 km2.

- Bên cạnh 2 hệ thống sông chính tỉnh Sơn La còn có 35 con suối lớn, hàng trăm con suối nhỏ nằm trên địa hình dốc với nhiều thác nước.

Động thực vật trên địa bàn tỉnh Sơn La

Sơn La có tài nguyên động, thực vật phong phú và đa dạng, với nhiều loài động thực vật quý.

Rừng Sơn La có nhiều nguồn gen động thực vật quí hiếm và các khu rừng đặc dụng có giá trị nghiên cứu khoa học như Sốp Cộp, Xuân Nha (Mộc Châu), Tà Xùa (Bắc Yên), Co Pia (Thuận Châu).

- Thực vật: Có 161 họ, 645 chi, 1.187 loài, bao gồm cả thực vật hạt kín, hạt trần, nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Tiêu biểu có các họ như: lan, dẻ, tếch, sa mu, tử vi, dâu...

+ Các họ có nhiều loài như: cúc, cói, đậu, ba mảnh vỏ, long não, hoa môi, ráy, ngũ gia bì, dâu, cà phê, lan, cam na, bông, vang, dẻ,...

+ Các loài thực vật quý hiếm gồm có pơ mu, thông tre, lát hoa, bách xanh, nghiến, chò chỉ, du sam, thông hai lá, thông ba lá, dâu, dổi, trai, sến, đinh hương, đinh thối, sa nhân, thiên niên kiện, ngũ gia bì, đẳng sâm, hà thủ ô...

+ Những loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng có: pơ mu, thông tre, lát hoa, bách xanh, nghiến, chò chỉ, thông ba lá, dổi, đinh hương, đinh thối, trai.

- Động vật rừng: có 101 loài thú, trong 25 họ, thuộc 8 bộ; chim có 347 loài, trong 47 họ, thuộc 17 bộ; bò sát có 64 loài, trong 15 họ thuộc 2 bộ, lưỡng thê có 28 loài, trong 5 họ, thuộc một bộ.

+ Các loài phát triển nhanh như dúi, nhím, don, chim, rắn.

+Những loài động vật quí hiếm được ghi trong sách đỏ như: voi, bò tót, vượn đen, hổ, báo, gấu, cầy vằn, chó sói, sóc bay, cu li, chồn mực, dúi nâu, lượn rừng...

3. THÔNG TIN CHÍNH PHỦ

Giải ngân 96% vốn Chính phủ giao theo dự án Thủy điện Sơn La

Tính đến hết quý I-2013, tỉnh Sơn La đã giải ngân, thanh toán được 9.084/9.434 tỷ đồng vốn đầu tư của Chính phủ giao theo dự án Thủy điện Sơn La, đạt 96%; bảo đảm tốt cho cuộc sống của các hộ dân tái định cư (TĐC).

Theo báo cáo của UBND tỉnh Sơn La, các đơn vị liên quan đã tổ chức di chuyển 12.584 hộ dân dưới cốt ngập và sắp xếp lại các hộ bị ảnh hưởng bảo đảm an toàn tuyệt đối. Hiện nay, đời sống của nhân dân tái định cư (TĐC) toàn dự án đã cơ bản ổn định, các khoản bồi thường, hỗ trợ cho các hộ TĐC và các hộ sở tại được công khai, minh bạch, chi trả kịp thời, đúng chế độ, chính sách quy định; các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật, phúc lợi công cộng tại các điểm TĐC được tập trung đầu tư xây dựng cơ bản, phục vụ tốt nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân. Công tác hỗ trợ sản xuất được quan tâm, trong đó đã mở được 213 lớp tập huấn kỹ thuật khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; tổ chức 546 mô hình sản xuất cho nhân dân để ổn định cuộc sống; hệ thống chính trị ở cơ sở được củng cố và tiến hành thành lập ở các bản TĐC, giúp nhân dân ổn định và hòa nhập với cộng đồng.

4. THÔNG TIN UBND TỈNH/THÀNH PHỐ

Dự kiến, tổng sản lượng điện sản xuất năm 2013 của Thủy điện Sơn La là trên 8 tỷ kWh điện.

Gian máy Thủy điện Sơn La - Ảnh VGP/Minh Huệ

Ông Hoàng Trọng Nam, Giám đốc Công ty Thủy điện Sơn La cho biết, trong quý I vừa qua, 6 tổ máy vận hành an toàn, liên tục, thực hiện phương thức huy động của Trung tâm điều độ điện Quốc gia vừa đảm bảo sản lượng cho hệ thống vừa cung cấp đủ nước cho Thủy điện Hòa Bình.

Nhà máy đã cung cấp cho lưới điện quốc gia trên 1,2 tỷ kWh điện, trong đó tháng 3, sản lượng điện của nhà máy đạt 480 triệu kWh điện.

Do làm tốt công tác duy tu bảo dưỡng nên cả 6 tổ máy đã sẵn sàng thực hiện lệnh của Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia phát hết công suất với sản lượng cao nhất cho hệ thống trong các tháng mùa khô.

Hội thảo phát triển kinh tế du lịch tỉnh Sơn La giai đoạn 2012 - 2015

Hội thảo phát triển kinh tế du lịch tỉnh Sơn La giai đoạn 2012 – 2015 do Hội Khoa học kinh tế phối hợp với Trung tâm Thông tin, Xúc tiến Du lịch tỉnh Sơn La, Công ty cổ phần du lịch Công Đoàn Sơn La tổ chức đã diễn ra ngày 4/12/2012 tại khách sạn Công Đoàn Sơn La.


Hội thảo có sự tham gia của lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Ban quản lý khu du lịch Mộc Châu; cùng đại diện các đơn vị kinh doanh nhà hàng, khách sạn tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Sơn La.

Sơn La hiện nay được đánh giá là tỉnh miền núi có nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn phong phú, hấp dẫn. Trong những năm gần đây Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mang lại lợi ích lớn cho xã hội. Tại hội thảo đại biểu đã được nghe các bài tham luận đánh giá về tiềm năng, thực trạng du lịch Sơn La, những khó khăn hạn chế và vai trò của công tác thông tin, xúc tiến du lịch trong sự nghiệp phát triển kinh tế du lịch Sơn La; Đánh giá công tác bảo tồn, phát huy những nét văn hóa dân tộc gắn với phát triển du lịch trong thời gian tới.

Trên cơ sở đó đại biểu tham gia hội thảo đã thảo luận và đưa ra được một số giải pháp phát triển du lịch trong thời gian tới như sau:

Một là: Tổ chức quy hoạch, hợp tác và liên kết phát triển du lịch;

Hai là: Đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ;

Ba là: Tăng cường công tác thông tin, xúc tiến quảng bá du lịch;

Bốn là: Quan tâm tới vấn đề đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố nền tảng để phát triển du lịch nhằm xây dựng một Sơn La công nghiệp hóa, hiện đại hóa; một Sơn La mến khách, góp phần thúc đẩy Sơn La trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, du lịch vùng Tây Bắc.

5. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Sơn La: Đầu tư 28,9 tỷ đồng cho hoạt động khuyến công

Mới đây, UBND tỉnh Sơn La đã quyết định đầu tư hơn 28 tỷ đồng cho hoạt động khuyến công giai đoạn 2012-2015, đây được kỳ vọng là một trong những yếu tố thúc đẩy hơn nữa vai trò của hoạt động khuyến công trong quá trình phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT), qua đó góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh giai đoạn tới.

Đến năm 2015, sẽ có hàng nghìn lao động nông thôn được đào tạo nghề may công nghiệp.

Với đặc thù là một tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, giao thông không thuận lợi, ngành CNNT của Sơn La còn nhỏ lẻ và lạc hậu. Tuy nhiên, nhờ sự hỗ trợ tích cực của hoạt động khuyến công, ngành CNNT của Sơn La đã có những chuyển biến tích cực. Năm 2011, giá trị sản xuất ngành CNNT chiếm khoảng 34% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp (ước đạt 1.568 tỷ đồng) toàn tỉnh.

Nhằm tạo đà và nâng cao hơn nữa vai trò của hoạt động khuyến công trong sự phát triển ngành CNNT của tỉnh, mới đây UBND tỉnh Sơn La đã quyết định phê duyệt Chương trình khuyến công giai đoạn 2012-2015. Theo đó, với nguồn vốn đầu tư 28,9 tỷ đồng, khuyến công Sơn La sẽ thực hiện một cách có trọng tâm trọng điểm các nội dung của hoạt động khuyến công và hoàn thành mục tiêu của chương trình giai đoạn tới như: đảm bảo cho ngành CNNT tỉnh đạt mức tăng trưởng 23%/năm với giá trị sản xuất đạt 2.500 tỷ đồng, đào tạo gắn với giải quyết việc làm cho trên 5.000 lao động khu vực nông thôn, phát triển từ 5-7 tổ hợp, hợp tác xã CNNT hoạt động có hiệu quả, xây dựng mới 5 cụm công nghiệp…

Cụ thể, giai đoạn tới nội dung đào tạo nghề, truyền nghề, nhân cấy nghề vẫn là một trong những nội dung trọng điểm của hoạt động khuyến công. Với nguồn kinh phí đầu tư hơn 10,4 tỷ đồng, hoạt động khuyến công sẽ tập trung hỗ trợ đào tạo nghề, nâng cao tay nghề cho hơn 1.000 lao động của 10 cơ sở sơ chế, chế biến nguyên liệu bông, mây, tre, măng tre; hình thành được 5 bản nghề gia công sản xuất, sơ chế nguyên liệu phục vụ các nhà máy công nghiệp; đào tạo nâng cao tay nghề cho 1.500 lao động đang làm việc trong các nhà máy may công nghiệp, da giày, kéo vải sợi; hỗ trợ đào tạo nghề thêu, dệt thổ cẩm, cơ khí, sản xuất đồ mỹ nghệ cho 500 lao động và hình thành thêm được 4 hợp tác xã CNNT…

Với nội dung hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, hỗ trợ áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, hoạt động khuyến công sẽ dành 6,6 tỷ đồng hỗ trợ 10 đề án áp dụng, chuyển giao công nghệ chế biến nông sản sản xuất ra hàng hóa có giá trị và tính cạnh tranh cao, sản xuất hàng xuất khẩu mang lại lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho người nông dân… với mức hỗ trợ 100 triệu đồng/đề án; hỗ trợ các mô hình đã được trình diễn trong các lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp để hiện đại hóa công nghệ sản xuất truyền thống với mức hỗ trợ 250 triệu đồng/mô hình; hỗ trợ xây dựng và phát triển nghề, làng nghề truyền thống, phấn đấu đến năm 2015 sẽ xây dựng được thêm 5 làng nghề truyền thống…

Bên cạnh đó, hoạt động khuyến công cũng rất khuyến khích phát triển các sản phẩm CNNT tiêu biểu của tỉnh. Với 3,8 tỷ đồng đầu tư, giai đoạn tới khuyến công Sơn La sẽ hỗ trợ cho các đề án tham gia tổ chức bình chọn và cấp giấy chứng nhận sản phẩm CNNT tiêu biểu các cấp với mức hỗ trợ 50 triệu đồng/đề án; nhận quyền thương mại cho các sản phẩm CNNT trên địa bàn tỉnh, bao gồm: chuyển giao kỹ thuật sản xuất, bản quyền, nhãn hiệu hàng hóa…; hỗ trợ 20 gian hàng tham gia các hội chợ, triển lãm về sản phẩm CNNT tiêu biểu trong và ngoài tỉnh; hỗ trợ đăng ký bản quyền cho ít nhất 15 sản phẩm CNNT… Ngoài ra, hoạt động khuyến công Sơn La cũng sẽ dành 2,7 tỷ đồng thực hiện chương trình hỗ trợ kiên doanh, liên kết phát triển các cụm - điểm công nghiệp; 2,3 tỷ đồng thực hiện chương trình nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ khuyến công các cấp…

Để hoàn thành được Chương trình đã đề ra, ngoài việc huy động mọi nguồn lực, các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn tham gia, hoạt động khuyến công Sơn La sẽ tập trung nâng cao năng lực xây dựng đề án cho các cơ sở sản xuất CNNT, hướng dẫn và đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuân lợi cho các đối tượng hưởng lợi cũng như việc thanh quyết toán; liên kết với các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp, DN, cơ sở sản xuất để nâng cao chất lượng nguồn lao động và đảm bảo đầu ra cho lao động học nghề; ưu tiên nhân cấy nghề, phát triển các nghề cần nhiều lao động và có giá trị cao như: sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, thêu, mây tre đan xuất khẩu… tại các hộ gia đình, dòng họ và bản. Đặc biệt, khuyến công Sơn La sẽ có những cơ chế hỗ trợ để các DN, cơ sở sản xuất CNNT tiếp nhận lao động đã qua đào tạo vào làm việc và tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi; ưu tiên phát triển hạ tầng cụm công nghiệp và liên doanh, liên kết với các cụm công nghiệp trong và ngoài tỉnh để tăng hiệu quả đầu tư, thu hút lao động và cải tiến công nghệ sản xuất.

6. THÔNG TIN DỰ ÁN

Một số thông tin chính về dự án Thủy điện Sơn La

Dự án Thủy điện Sơn La là bậc thang thứ 2 nằm trên sông Đà (sau Thủy điện Lai Châu khởi công ngày 22/12/2010 và là bậc trên của Thủy điện Hòa Bình).

- Công trình chính thuộc địa phận xã Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Hồ chứa nước thuộc một số xã, huyện thuộc tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu.

- Nhiệm vụ chính của Dự án: Cung cấp điện lên hệ thống điện quốc gia với công suất lắp đặt 2.400 MW (gồm 6 tổ máy, mỗi tổ máy 400 MW); sản lượng điện trung bình hằng năm là 10,246 tỷ kWh; chống lũ về mùa mưa, cung cấp nước về mùa khô cho đồng bằng Bắc Bộ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc.

* Dự án Thủy điện Sơn La gồm 3 dự án thành phần:

+ Dự án xây dựng công trình thủy điện do Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư (các hạng mục chính gồm: Đập dâng, đập tràn, tuyến năng lượng, nhà máy thủy điện, hệ thống truyền tải đấu nối vào lưới điện quốc gia);

+ Dự án di dân tái định canh, định cư do Ủy ban Nhân dân các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu làm chủ đầu tư;

+ Dự án các công trình giao thông do Bộ Giao thông Vận tải làm chủ đầu tư.

* Vài nét khái quát về dự án xây dựng công trình:

- Chủ đầu tư: Tập đoàn Điện lực Việt Nam, đại diện là Ban QLDA NMTĐ Sơn La

- Tư vấn thiết kế chính: Công ty cổ phần Tư vấn Xây dựng điện 1

- Các thông số và khối lượng chính của công trình thủy điện:

+ Diện tích lưu vực: 43.760 km2

+ Dung tích hồ chứa: 9,26 tỷ m3

+ Mực nước dâng bình thường: 215 m

+ Mực nước gia cường: 217,83 m

+ Mực nước chết: 175 m

+ Công suất lắp đặt: 2.400 MW, số tổ máy 6 tổ x 400 MW

+ Điện lượng trung bình nhiều năm: 10,246 tỷ kWh (trong đó tăng cho thủy điện Hòa Bình là 1,267 tỷ kWh)

+ Kết cấu đập bê tông trọng lực cao 138,1 m; chiều dài đỉnh đập 961,6 m; công trình có 12 khoang xả sâu, 6 khoang xả mặt. Nhà máy thủy điện kiểu hở, bố trí sau đập.

+ Khối lượng đào đắp đất đá các loại: 14,673 triệu m3

+ Khối lượng bê tông các loại: 4,920 triệu m3, trong đó 2,238 triệu m3 bê tông CVC và 2,682 triệu m3 bê tông RCC.

+ Khoan phun gia cố và khoan phun chống thấm: 109.400 md

+ Khối lượng thiết bị: 72.070 tấn các loại.

- Tiến độ: Theo Nghị quyết của Quốc hội phát điện tổ máy 1 vào năm 2012, hoàn thành toàn bộ Nhà máy vào năm 2015, được hiệu chỉnh phát điện tổ máy 1 vào cuối năm 2010, hoàn thành công trình vào năm 2012.

Về trang bản đồ