Tỉnh Quảng Ninh

   Chuyên mục: Bản đồ Việt Nam
Thành viên


Một lễ hội của dân tộc Sán Dìu 


1. CON NGƯỜI

Dân số

Theo kết quả điều tra sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số Quảng Ninh hiện nay có 1.144.381 người, trong đó nữ có 558.793 người;

Tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị của Quảng Ninh.

Kết cấu dân số ở Quảng Ninh có mấy nét đáng chú ý. Trước hết là "dân số trẻ", tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi chiếm tới 37,6%. Người già trên 60 tuổi (với nam) và trên 55 tuổi (với nữ) là 7,1%. Các huyện miền núi tỉ lệ trẻ em dưới tuổi lao động còn lên tới 45%. Nét đáng chú ý thứ hai là ở Quảng Ninh, nam giới đông hơn nữ giới (nam chiếm 50,9 %, nữ chiếm 49,1%). Ngược với tỷ lệ toàn quốc. Ở các địa phương có ngành công nghiệp mỏ, tỷ lệ này còn cao hơn, ví dụ: Cẩm Phả, nam 53,2%, nữ 46,8%.

Mật độ dân số của Quảng Ninh hiện là 188 người/km vuông (năm 1999 là 196 người/ km vuông), nhưng phân bố không đều. Vùng đô thị và các huyện miền tây rất đông dân, thành phố Hạ Long 739 người/km2, huyện Yên Hưng 415 người/km2, huyện Ðông Triều 390 người/km2. Trong khi đó, huyện Ba Chẽ 30 người/km2, Cô Tô 110 người/km2, Vân Ðồn 74 người/km2.

Dân tộc 

Quảng Ninh có 22 thành phần dân tộc, song chỉ có 6 dân tộc có hàng nghìn người trở lên, cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ, có bản sắc dân tộc rõ nét. Ðó là các dân tộc Việt (Kinh), Dao, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa.

Trong các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, người Việt (Kinh) chiếm 89,23% tổng số dân. Họ có gốc bản địa và nguồn gốc từ các tỉnh, đông nhất là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Họ sống đông đảo nhất ở các đô thị, các khu công nghiệp và vùng đồng bằng ven sông, ven biển. Do có số người chuyển cư đến từ rất nhiều đời, nhiều đợt nên Quảng Ninh thực sự là nơi "góp người". Sau người Việt (Kinh) là các dân tộc thiểu số có nguồn gốc từ lâu đời. Người Dao (4, 45%) có hai nhánh chính là Thanh Y, Thanh Phán, thường cư trú ở vùng núi cao. Họ còn giữ được bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ, y phục, lễ hội và phong tục, một bộ phận vẫn giữ tập quán du canh du cư làm cho kinh tế văn hoá chậm phát triển.Người Hoa (0, 43%), người Sán Dìu (1,80%), Sán chỉ (1,11%) ở vùng núi thấp và chủ yếu sống bằng nông nghiệp với nghề trồng cấy lúa nước. Người Hoa gồm nhiều dân tộc thiểu số từ miền Nam Trung Quốc di cư sang từ lâu bằng rất nhiều đợt. Một số ít là Hoa Kiều sang buôn bán làm nghề thủ công ở các thị trấn miền Ðông, còn phần lớn sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp, đánh cá, làm nghề rừng. Hiện nay, các dân tộc thiểu số - chủ nhân của miền núi, nơi có nhiều khó khăn, kinh tế và văn hoá còn chậm phát triển, đang được quan tâm về nhiều mặt và đời sống đã có những thay đổi rõ rệt.

Tôn giáo

Quảng Ninh là một vùng đất có nền văn hoá lâu đời. Văn hoá Hạ Long đã được ghi vào lịch sử như một mốc tiến hoá của người Việt. Cũng như các địa phương khác, cư dân sống ở Quảng Ninh cũng có những tôn giáo, tín ngưỡng để tôn thờ: Ph

Ðạo Phật đến với vùng đất này rất sớm. Trước khi vua Trần Thái Tông (1225-1258) đến với đạo Phật ở núi Yên Tử thì đã có nhiều các bậc chân tu nối tiếp tu hành ở đó. Vua Trần Nhân Tông (1279-1293) chọn Yên Tử là nơi xuất gia tu hành và lập nên dòng Thiền trúc Lâm ở Việt Nam. Thế kỷ 14, khu Yên Tử và Quỳnh Lâm (Ðông Triều) là trung tâm của Phật giáo Việt Nam, đào tạo tăng ni cho cả nước. Nhiều thế kỷ sau đó, Ðạo Phật vẫn tiếp tục duy trì với hàng trăm ngôi chùa ở Quảng Ninh, trong đó có những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Lôi Âm, chùa Long Tiên (Hạ Long), Linh Khánh (Trà Cổ), Hồ Thiên (Ðông Triều), Linh Quang (Quan Lạn)... Trải qua nhiều biến cố của lịch sử, sự tàn phá của thiên nhiên và cả con người, hiện trên đất Quảng Ninh còn lại khoảng trên dưới 30 ngôi chùa nằm rải rác ở 8 huyện, thị, thành phố. Chưa có con số thống kê chính xác số lượng các tăng ni trên địa bàn của tỉnh nhưng những người tôn thờ đạo Phật lúc nào cũng đông (có thể càng ngày càng đông), bằng chứng là cứ đến ngày rằm, ngày mồng một (âm lịch) hàng tháng, các "con nhang, đệ tử" khắp nơi đến các ngôi chùa gần xa, dâng hương lễ Phật, cầu lành.

Những người tôn thờ các tôn giáo khác cũng có nhưng không đông như tín đồ Ðạo Phật. Hiện có 27 nhà thờ Ky Tô giáo của 9 xứ thuộc 41 họ đạo nằm ở 8 huyện, thị xã, thành phố. Số giáo dân khoảng hơn một vạn người. Tín đồ đạo Cao Ðài hiện có khoảng vài chục người. Tín ngưỡng phổ biến nhất đối với cư dân sống ở Quảng Ninh là thờ cúng tổ tiên, thờ các vị tướng lĩnh nhà Trần có công với dân với nước, các vị Thành Hoàng, các vị thần (sơn thần, thuỷ thần), thờ các mẫu (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải)...

2. ĐỊA LÝ

Vị trí địa lý


Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một hình chữ nhật lệch nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam. Phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp. Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc bộ với bờ biển khúc khuỷu nhiều cửa.

Quảng Ninh có toạ độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc. Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195 km. Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 102 km. Điểm cực bắc là dãy núi cao thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn. Điểm cực tây là sông Vàng Chua ở xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều. Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc xã Trà Cổ, thị xã Móng Cái.

Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Trên đất liền, phía bắc của tỉnh (có các huyện Bình Liêu, Hải Hà và thị xã Móng Cái) giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây với 132,8 km đường biên giới; phía đông là vịnh Bắc Bộ; phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía nam giáp Hải Phòng. Bờ biển dài 250 km.

Quảng Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là tính đến ngày 1-10-1998 là 611.081,3 ha. Trong đó đất nông nghiệp 243.833,2 ha, đất chuyên dùng 36.513 ha, đất ở 6.815,9 ha, đất chưa sử dụng 268.158,3 ha.

Địa hình

Quảng Ninh là tỉnh miền núi - duyên hải. Hơn 80% đất đai là đồi núi. Hơn hai nghìn hòn đảo nổi trên mặt biển cũng đều là các quả núi.

Vùng núi chia làm hai miền: Vùng núi miền Đông từ Tiên Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái. Đây là vùng nối tiếp của vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc - tây nam. Có hai dãy núi chính: dãy Quảng Nam Châu (1.507 m) và Cao Xiêm (1.330 m) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 m) ở phía bắc huyện Tiên Yên. Vùng núi miền tây từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã Uông Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều. Vùng núi này là những dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều với đỉnh Yên Tử (1.068 m) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 m) trên đất Hoành Bồ.

Vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông Bí, bắc Yên Hưng, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái. ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi triều thấp. Đó là vùng nam Uông Bí, nam Yên Hưng (đảo Hà Nam), đông Yên Hưng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam Móng Cái. Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng bằng ven biển thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên đang là những vùng dân cư trù phú của Quảng Ninh.

Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ. Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú.

Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng...)

Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m. Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng. Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn.

Khí hậu

Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển. Các quần đảo ở huyện Cô Tô và Vân Đồn... có đặc trưng của khí hậu đại dương.

Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều; một mùa đông lạnh, ít mưa và tính nhiệt đới nóng ẩm là bao trùm nhất.

Do nằm trong vành đai nhiệt đới nên hàng năm có hai lần mặt trời qua thiên đỉnh, tiềm năng về bức xạ và nhiệt độ rất phong phú.

Ảnh hưởng bởi hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á nên khí hậu bị phân hoá thành hai mùa: mùa hạ nóng ẩm với mùa mưa, mùa đông lạnh với mùa khô.

Về nhiệt độ: được xác định có mùa đông lạnh, nhiệt độ không khí trung bình ổn định dưới 20oC. Mùa nóng có nhiệt độ trung bình ổn định trên 25oC.

Về mưa: theo quy ước chung, thời kỳ có lượng mưa ổn định trên 100 mm là mùa mưa; còn mùa khô là mùa có lượng mưa tháng ổn định dưới 100 mm.

Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh ở Quảng Ninh bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10.

Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10.

Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10).

Sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa đông (tháng 1) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa hạ (tháng 7) là 120C và thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng 1 theo tiêu chuẩn nhiệt độ cùng vĩ tuyến là 5,10C.

Sông ngòi và chế độ thủy sản 

Quảng Ninh có đến 30 sông, suối dài trên 10 km nhưng phần nhiều đều nhỏ. Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có 4 con sông lớn là hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ.

Đại bộ phận sông có dạng xoè hình cánh quạt, trừ sông Cầm, sông Ba Chẽ, sông Tiên Yên, sông Phố Cũ có dạng lông chim.

Nước ngập mặn xâm nhập vào vùng cửa sông khá xa. Lớp thực vật che phủ chiếm tỷ lệ thấp ở các lưu vực nên thường hay bị xói lở, bào mòn và rửa trôi làm tăng lượng phù sa và đất đá trôi xuống khi có lũ lớn do vậy nhiều nơi sông suối bị bồi lấp rất nhanh, nhất là ở những vùng có các hoạt động khai khoáng như ở các đoạn suối Vàng Danh, sông Mông Dương.

Ngoài 4 sông lớn trên, Quảng Ninh còn có 11sông nhỏ, chiều dài các sông từ 15 – 35 km; diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300 km2, chúng được phân bố dọc theo bờ biển, gồm sông Tràng Vinh, sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Đồng Cái Xương, sông Hà Thanh, sông Đồng Mỏ, sông Mông Dương, sông Diễn Vọng, sông Man, sông Trới, sông Míp.

Tất cả các sông suối ở Quảng Ninh đều ngắn, nhỏ, độ dốc lớn. Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa. Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh. Lưu lượng mùa khô 1,45m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần.

Về phía biển Quảng Ninh giáp vịnh Bắc Bộ, một vịnh lớn nhưng kín lại có nhiều lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ. Chế độ thuỷ triều ở đây là nhật triều điển hình, biên độ tới 3-4 m. Nét riêng biệt ở đây là hiện tượng sinh "con nước" và thuỷ triều lên cao nhất vào các buổi chiều các tháng mùa hạ, buổi sáng các tháng mùa đông những ngày có con nước cường. Trong vịnh Bắc Bộ có dòng hải lưu chảy theo phương bắc nam kéo theo nước lạnh lại có gió mùa đông bắc nên đây là vùng biển lạnh nhất nước ta. Nhiệt độ có khi xuống tới 130C.

3. THÔNG TIN CHÍNH PHỦ

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc làm việc với tỉnh Quảng Ninh về Đề án "Xây dựng thí điểm Khu hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn và Khu Kinh tế cửa khẩu tự do Móng Cái".

Sáng ngày 20/3/2013, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ đã có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh về Đề án "Xây dựng thí điểm Khu hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn và Khu Kinh tế cửa khẩu tự do Móng Cái".

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc.

Tham dự buổi làm việc có lãnh đạo Ban Kinh tế Trung ương; Văn phòng Chính phủ; lãnh đạo các Bộ: Công an, Quốc phòng, Tài Chính, Nội vụ, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Kế hoạch & Đầu tư, Tư pháp...

Làm việc với Phó Thủ tướng và Đoàn công tác của Chính phủ, tỉnh Quảng Ninh có các đồng chí: Phạm Minh Chính, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; Đỗ Thị Hoàng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; Nguyễn Đức Long, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Văn Đọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh và các đồng chí trong Thường trực HĐND, UBND;  lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương của tỉnh.

Tại buổi làm việc, đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy đã báo cáo tóm tắt với Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn công tác của Chính phủ về Đề án "Xây dựng thí điểm Khu hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn và Khu Kinh tế cửa khẩu tự do Móng Cái".

Về Đề án "Xây dựng thí điểm Khu hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn" bao gồm 4 phần cơ bản. Đó là: Sự cần thiết, cơ sở, mục đích, yêu cầu và phạm vi của Đề án; nhận diện, đánh giá tỉnh Quảng Ninh và Khu kinh tế ven biển Vân Đồn; xây dựng mô hình phát triển Vân Đồn; kiến nghị, đề xuất với Trung ương về một số cơ chế, chính sách đặc thù.

Cụ thể, tỉnh đề nghị Bộ Chính trị ban hành nghị quyết thành lập Khu hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn và các chính sách đặc thù; cho phép phân cấp và  hưởng các chính sách đặc biệt  để tạo động lực phát triển. Bổ sung có mục tiêu cho tỉnh thực hiện các dự án hạ tầng động lực để Quảng Ninh tập trung nguồn lực đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng và thu hút đầu tư phát triển tại Khu hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn...


Đồng chí Đinh Văn Cương, Ủy viên T.Ư Đảng, Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương phát biểu tham gia vào Đề án của tỉnh Quảng Ninh.

Đối với Đảng Đoàn Quốc hội, tỉnh đề nghị: Sau khi có nghị quyết của Bộ Chính trị, Đảng Đoàn Quốc hội chỉ đạo việc ban hành luật hoặc nghị quyết thí điểm Khu hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn; bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hóa thêm một bước Điều 84, Hiến pháp năm 1992 về khu hành chính-kinh tế đặc biệt theo hướng có thể trực thuộc Trung ương hoặc trực thuộc tỉnh; Chính phủ chỉ đạo Bộ Tư pháp nghiên cứu, xây dựng Luật về khu hành chính-kinh tế đặc biệt trình Quốc hội; các Ban Đảng Trung ương tham mưu ban hành điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, quy định hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cấp ủy, bí thư cấp ủy, các cơ quan tham mưu cho cấp ủy để phù hợp với yêu cầu lãnh đạo theo mô hình mới...


Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú phát biểu tham gia vào Đề án của tỉnh Quảng Ninh.

Còn đối với Đề án  "Khu Kinh tế cửa khẩu tự do Móng Cái" được triển khai gồm 4 phần là: Sự cần thiết, cơ sở, mục đích, yêu cầu và phạm vi điều chỉnh Đề án; đánh giá tỉnh Quảng Ninh và Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái; xây dựng mô hình phát triển Khu kinh tế cửa khẩu tự do Móng Cái; kiến nghị, đề xuất...

Để Đề án này được đi vào thực tiễn, tỉnh Quảng Ninh đã đề nghị:  Bộ Chính trị đồng ý ban hành nghị quyết thành lập Khu kinh tế cửa khẩu tự do Móng Cái và các chính sách đặc thù cho khu vực này; đồng ý cho hưởng các chính sách đặc biệt đối với chính quyền Khu kinh tế cửa khẩu tự do Móng Cái để tạo động lực phát triển.

Sau khi có Nghị quyết của Bộ Chính trị, Đảng Đoàn Quốc hội chỉ đạo việc ban hành luật hoặc nghị quyết thí điểm thành lập  Khu kinh tế cửa khẩu tự do Móng Cái. Ban Cán sự Đảng Chính phủ chỉ đạo sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật, chỉ đạo các bộ, ngành Trung ương triển khai thực hiện Đề án. Ngoài các chính sách ưu đãi riêng, tỉnh đề nghị Trung ương đồng ý cho Quảng Ninh được thực hiện một số chính sách ưu đãi đặc thù để tập trung đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng và thu hút đầu tư phát triển Khu kinh tế cửa khẩu tự do Móng Cái...


Đồng chí Lê Minh Chuẩn, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam phát biểu tham gia vào Đề án của tỉnh Quảng Ninh.

Tại buổi làm việc, lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương đều bày tỏ sự đồng tình, đánh giá cao việc xây dựng Đề án của tỉnh Quảng Ninh, đồng thời tham gia làm rõ hơn một số vấn đề như: Cơ chế, chính sách đặc thù để huy động nguồn lực; tên gọi các khu; xây dựng lộ trình thực hiện phù hợp hơn; làm rõ hơn những đề xuất, kiến nghị với Trung ương, nhất là những nội dung liên quan đến vấn đề kinh phí...Mặt khác, một số ý kiến còn đề nghị tỉnh cần chủ động phối với hợp với các bộ, ngành Trung ương rà soát lại tất cả những đề xuất để khi trình lên cấp có thẩm quyền mang tính khả thi hơn...

Kết luận buổi làm việc, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã biểu dương và đánh giá cao Đề án do tỉnh Quảng Ninh xây dựng. Phó Thủ tướng khẳng định, đây là mô hình mới chưa địa phương nào trong cả nước triển khai thực hiện, nên ưu điểm nổi bật là đã xây dựng được cơ chế chính sách khác biệt, vượt trội...

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo Quảng Ninh khi nghiên cứu xây dựng Đề án cần dựa trên nguyên tắc xây dựng khu hành chính, kinh tế đặc biệt phải đủ sức cạnh tranh toàn cầu; chủ động phối hợp với các Bộ, ngành rà soát, hoàn chỉnh đề án trước khi trình Trung ương.

Phó Thủ tướng cũng chỉ rõ, quan điểm phát triển Móng Cái ở các lĩnh vực thương mại, du lịch dịch vụ, công nghiệp, hướng thị trường ra nước ngoài, cạnh tranh toàn cầu; Trung ương sẽ tạo mọi điều kiện về các cơ chế, chính sách về tài chính,  đất đai...Tuy nhiên, Quảng Ninh cũng cần tính toán đến các vấn đề về môi trường, ANTT và đề cập rõ trong Đề án, đồng thời yêu cầu Quảng Ninh cần phải đổi mới, quyết liệt, dám nghĩ dám làm, sớm hoàn thiện quy hoạch...

Trước mắt, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu, Quảng Ninh cần phải  thực hiện tốt các chỉ tiêu kinh tế-xã hội đã đề ra; chủ động làm tốt công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư để thu hút doanh nghiệp và tiếp tục làm tốt công tác đảm bảo an ninh - quốc phòng trên địa bàn.


Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trao đổi với đồng chí Nguyễn Đức Long, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh về Đề án của tỉnh Quảng Ninh.

Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy đã cảm ơn sự quan tâm của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn công tác đối với Đề án của Quảng Ninh, đồng thời khẳng định, sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương để sớm hoàn thành Đề án trình lên Trung ương theo đúng quy định.

4. THÔNG TIN UBND TỈNH/THÀNH PHỐ

Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh

Định hướng phát triển kinh tế - xã hội Quảng Ninh đến năm 2020

Ngày 24/11/2006 Thủ Tướng chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

I. Quan điểm phát triển.

1. Xây dựng tỉnh Quảng Ninh trở thành một địa bàn động lực, một trong những cửa ngõ giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ  đối với khu vực và Quốc tế, một  khu vực phát triển năng động của kinh tế ven biển và biển, có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững; có thế và lực ngày càng lớn thúc đẩy sự phát triển và khả năng cạnh tranh.

2. Phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu. Nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dich vụ, đặc biệt là các ngành kinh tế giữ vai trò chủ đạo của Tỉnh. Phát huy tối đa thế mạnh về du lịch, giải quyết hài hoà giữa phát triển du lịch với các lĩnh vực khác; trong đó, ưu tiên phát triển du lịch, phải giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường. Coi trọng hàng đầu việc xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tích cực chuẩn bị tốt tiền đề để phát triển nhanh và bền vững hơn sau năm 2010.

3. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá xã hội, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy tiến bộ và thực hiện công bằng xã hội đặc biệt chu ý đến vùng núi hải đảo và vùng đồng bào dân tộc ít người tru?c hết là nâng cao dân trí và mức sống vật chất tinh tần của nhân dân.

4. Điều chỉnh và cải thiện việc tổ chức kinh tế theo lãnh thổ. Kết hợp giữa phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ dải ven biển Hạ Long ở tiểu vùng phía Tây của Tỉnh vơi phát triển nông,lâm nghiệp,công nghiệp chế biến, dịch vụ của tiểu vùng phía Đông của Tỉnh và khu vực miền núi; giữa phát triển đô thị với phát triển nông thôn tạo điều kiện cho các vùng phát triển hạn chế chênh lệch khá xa về nhịp độ tăng trưởng giữa các vùng.

5. Kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên môi trường bảo đảm phát triển bền vững. Phát triển kinh tế phải bảo đảm tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh; đặc biệt chú trọng giữ vững chủ quyền vùng biển, đảo và thềm lục địa về quyền lợi kinh tế, giữ vững chủ quyên quốc gia. (Xem chi tiết)

5. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Kinh tế thương mại, dịch vụ và du lịch: Hạt nhân để Móng Cái phát triển

Từ một huyện biên giới nghèo, đến nay Móng Cái đã trở thành một thành phố cửa khẩu sầm uất với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 17%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, trong đó thương mại - dịch vụ chiếm trên 80%. Đây cũng là địa phương duy nhất có tổng giá trị hàng hoá hai chiều qua cửa khẩu đạt 18.070 triệu USD, tăng bình quân 26,25%/năm, chiếm 95,7% tổng kim ngạch hàng hoá qua các cửa khẩu biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc trên địa bàn tỉnh và chiếm trên 40% tổng kim ngạch hàng hoá XNK qua cửa khẩu các tỉnh biên giới phía Bắc. Đối với thị trường nội địa luôn có tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và tiêu dùng xã hội tăng bình quân 23,55%/năm với hệ thống 4 trung tâm thương mại, 14 chợ và trên 4.725 điểm kinh doanh.


Hoạt động biên mậu tại cửa khẩu Ka Long luôn diễn ra sôi động.

Những vận hội, thời cơ để lĩnh vực thương mại, dịch vụ của Móng Cái phát triển mạnh mẽ như trên, đó chính là yếu tố vị thế địa chính trị và địa kinh tế đặc biệt. So với nhiều địa phương trong tỉnh và các vùng lân cận, Móng Cái là địa phương có cả cửa khẩu quốc tế trên bộ lẫn trên biển, là nơi hội tụ giao thoa giữa hai hành lang, một vành đai phát triển kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ. Bên cạnh đó còn là sự nỗ lực của TP Móng Cái trong việc vận dụng linh hoạt các cơ chế chính sách; tranh thủ những ưu đãi để kêu gọi đầu tư, tập trung nguồn lực tài chính để từng bước hình thành hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.

Tính từ năm 1996 đến nay, TP Móng Cái đã đầu tư xây dựng 1.148 công trình với tổng mức đầu tư gần 3.000 tỷ đồng, trong đó có nhiều công trình phục vụ trực tiếp cho các hoạt động về thương mại - dịch vụ. Đặc biệt đối với hoạt động XNK hàng hoá qua biên giới, đến nay, TP Móng Cái đã hình thành hệ thống hạ tầng khu vực cửa khẩu tương đối đồng bộ với bãi kiểm hoá, bến bãi bốc xếp hàng hoá XNK. Bao gồm cửa khẩu Bắc Luân, cửa khẩu Ka Long, điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu Lục Lầm và điểm kiểm tra hàng hoá tập trung tại khu vực gần cửa khẩu Quốc tế Móng Cái. Hệ thống kho, bến, bãi bốc xếp hàng hoá do doanh nghiệp đầu tư, có 7 bến cảng, 9 bến thuỷ nội địa, 11 điểm kiểm tra hàng hoá xuất khẩu được đầu tư đồng bộ về trang thiết bị kỹ thuật.

Cùng với các hoạt động thương mại, dịch vụ, lĩnh vực du lịch của Móng Cái cũng có bước phát triển mạnh với các loại hình dịch vụ đa dạng, phong phú. Đến nay, trên địa bàn thành phố có 226 cơ sở lưu trú, với 3.077 phòng, 5.607 giường, công suất sử dụng phòng đạt 60%. Thành phố cũng duy trì tốt hoạt động của 31 đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế và sân Golf 18 lỗ đáp ứng nhu cầu của du khách.

Từ sự quan tâm đầu tư phát triển các loại hình đến các hoạt động quảng bá, xúc tiến, huy động nguồn lực các thành phần kinh tế đầu tư, nên du lịch của Móng Cái trong những năm qua đã đạt được những kết quả quan trọng. Trong giai đoạn 2006-2011, lượng khách xuất nhập cảnh qua cửa khẩu Móng Cái tiếp tục tăng mạnh với 10.601.120 lượt người với tổng doanh thu đạt 1.893,74 tỷ đồng, tăng bình quân 12,95%/năm. Năm 2012 và 3 tháng đầu năm 2013, con số này vẫn duy trì được nhịp độ phát triển ổn định, đảm bảo là lĩnh vực kinh tế đầu tàu trong các hoạt động kinh tế của thành phố vùng biên.

Ông Dương Văn Cơ, Chủ tịch UBND TP Móng Cái cho biết, TP Móng Cái đã và đang tập trung nguồn lực để đầu tư một số công trình trọng điểm, trong đó có lĩnh vực thương mại, dịch vụ và du lịch. Đây cũng được coi là hai mũi nhọn đầu tàu để Móng Cái phấn đấu vì mục tiêu xây dựng đô thị loại 2 và là thành phố cửa khẩu quốc tế hiện đại, xanh, thân thiện với môi trường.

Ứng dụng công nghệ phát triển kinh tế biển ở Quảng Ninh

Với đường biên giới trên đất liền 120km và trên biển 191km, Quảng Ninh được xác định là cửa ngõ hội nhập thế giới của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, điểm nút trong khu vực hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt-Trung”, trong đó việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vào phát triển kinh tế biển luôn được tỉnh đặc biệt coi trọng.

Huyện đảo Cô Tô. Ảnh Internet

Ông Hoàng Danh Sơn, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh cho biết: Tỉnh có bờ biển dài trên 250km, diện tích mặt biển rộng 6.100 km2 và trên 40.000ha bãi triều, 20.000ha eo vịnh, diện tích các đảo chiếm 11,5% diện tích đất tự nhiên. Đồng thời, tỉnh có 10 huyện, thị xã, thành phố có biển, trong đó có 2 huyện đảo Vân Đồn và Cô Tô, 1 khu kinh tế ven biển, 4 cảng cửa khẩu trên biển là Cẩm Phả, Hòn Gai, Vạn Gia, Mũi Chùa. Đây là tỉnh duy nhất có 4 thành phố trực thuộc lại tiếp giáp với vùng duyên hải Nam Trung Quốc - nơi đang được đầu tư phát triển để trở thành các “cực tăng trưởng” chính trong khu vực Vịnh Bắc Bộ với các cảng biển, các trung tâm kinh tế lớn thuộc các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và Hải Nam (Trung Quốc).

Vị trí địa lý, các tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và xu thế phát triển đang tạo ra nhiều cơ hội và thách thức đối với Quảng Ninh. Do đó nếu có chính sách phù hợp, điều hành phối hợp chặt chẽ, nhất là áp dụng khoa học và công nghệ hiện đại sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ để Quảng Ninh phát triển nhanh hơn, góp phần thúc đẩy cả vùng phát triển, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của cả nước.

Tuy vậy, mâu thuẫn giữa phát triển công nghiệp, đô thị hóa nhanh cùng với các loại hình dịch vụ trên cùng một địa bàn hẹp và nhạy cảm như xung quanh Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, với yêu cầu bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường, phát triển theo hướng tăng trưởng xanh đang trở nên gay gắt. Ô nhiễm môi trường tại một số khu vực ở đây đã lên mức nghiêm trọng đòi hỏi phải khẩn trương khắc phục, nếu không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt và sức khỏe người dân, đến phát triển các ngành kinh tế khác như nuôi trồng thủy sản, hải sản và đặc biệt là du lịch.

Hoạt động kinh tế biển còn gặp nhiều khó khăn do hệ thống văn bản pháp luật về biển và hải đảo còn thiếu; việc khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ thiếu quy hoạch, chưa hiệu quả; môi trường vùng bờ bị biến đổi theo chiều hướng xấu; đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm; đời sống người dân vùng biển và ven biển chịu nhiều rủi ro do tai biến thiên nhiên và biến đổi khí hậu.

Do đó, trong giai đoạn 2006-2011, Quảng Ninh đã triển khai 21 nhiệm vụ liên quan đến phát triển kinh tế biển, đảo với tổng kinh phí sự nghiệp và khoa học 10 tỷ 742 triệu đồng. Tiêu biểu như đã triển khai nhiệm vụ Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sản xuất giống nhân tạo và ương nuôi tu hài thương phẩm tại huyện Vân Đồn. Kết quả đã sản xuất được 2,5 triệu con giống tu hài, nuôi thành công 122 tấn tu hài thương phẩm. Đề tài Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất ốc nhảy, thông qua các thí nghiệm về kích thích sinh sản và ương nuôi ấu trùng. Đề tài đã sản xuất 10.333 ốc giống cấp II, trở thành cơ sở để các nhà khoa học và doanh nghiệp nghiên cứu công nghệ sản xuất giống ốc nhảy cung cấp con giống cho nhu cầu ngày càng lớn hiện nay.

Trong những năm tới, Quảng Ninh chủ động phối hợp với các Bộ, ngành triển khai thực hiện đề tài Điều tra hiện trạng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo. Kết quả nghiên cứu đề tài thành công sẽ đưa ra được bộ cơ sở dữ liệu và hệ thống bản đồ, phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu dựa trên công nghệ GIS. Mặt khác xây dựng khu nghiên cứu, chuyển giao và ươm tạo công nghệ thủy sản; đầu tư xây dựng các trạm quan trắc môi trường tự động để kiểm soát ô nhiễm trên toàn địa bàn tỉnh; xây dựng trạm quan trắc tổng hợp tài nguyên-môi trường, khí tượng thủy văn biển và trạm Rada biển tại huyện Vân Đồn.

Về định hướng nhu cầu công nghệ phục vụ phát triển kinh tế biển giai đoạn 2013-2020, Quảng Ninh xác định ưu tiên đầu tư trọng điểm cho công nghệ phục vụ công tác điều tra cơ bản tài nguyên biển, công nghệ phục vụ khai thác và sử dụng tài nguyên, công nghệ phục vụ bảo tồn, bảo vệ môi trường biển. Qua đó nhằm phát hiện và làm rõ đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường vùng biển của tỉnh. Ứng dụng công nghệ để phát triển các nguồn lợi thủy sản ngoài cá và các loại đặc sản đặc hữu. Sử dụng công nghệ viễn thám kết hợp ảnh vệ tinh độ phân giải cao trong việc xác định các khu vực ven biển và hải đảo có tiềm năng phát triển hoạt động du lịch và sinh thái.

Quảng Ninh cũng sẽ từng bước triển khai công nghệ khai thác nguồn năng lượng biển, phát triển bền vững hệ thống cảng và bảo vệ môi trường cảng, đánh giá sa bồi, lựa chọn các phương án luồng cảng; giải pháp tiêu giảm sóng để xây dựng đê chắn sóng khu neo đậu tàu thuyền kết hợp cảng cá. Sử dụng công nghệ viễn thám và GIS nhằm phát hiện, theo dõi, giám sát chất lượng môi trường nước biển, tràn dầu trên địa bàn tỉnh.

6. THÔNG TIN DỰ ÁN

Các dự án kêu gọi thu hút đầu tư vào tỉnh QN năm 2013 và giai đoạn 2013 – 2015

Các dự án ODA

STT

TÊN DỰ ÁN

VỐN ĐẦU TƯ

(Triệu USD)

ĐỊA ĐIỂM
THỰC HIỆN

Cơ quan
liên hệ

1

Dự án bảo vệ môi trường TP Hạ Long

111

Thành phố Hạ LongSở Kế hoạch và Đầu tưQuảng Ninh;
Tel: + 84.333.835 693

Fax: + 84.333.838 071

Email:dpi.quangninh@gmail.com

2

Dự án cầu Vân Tiên

90

Huyện Vân Đồn và Huyện Tiên YênBan quản lý Khu Kinh tế Quảng Ninh
Tel: +84-33 3835 166

Fax: +84-33 3838 022

Email:pqldt_bqlkkt@quangninh.gov.vn

3

Dự án mở rộng và cải tạo hệ thống

cấp nước TP Móng Cái

9

TP Móng CáiCông ty thi công và cấp nước
Quảng Ninh

Tel:+ 84 33 3835 733

Fax: + 84 33 3835 796

4

Dự án cải tạo và nâng cấp 06 trạm cấp nước nông thôn khu Hà Nam, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh

1.5

Hà Nam, Yên Hưng, tỉnh Quảng NinhTrung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Tel:+84 333 834 253

5

Dự án tăng cường hệ thống quản lý và xử lý nước thải mỏ khu vực Vịnh Hạ Long – Việt Nam

1

Vịnh Hạ LongSở Kế hoạch và Đầu tư Quảng
Ninh;

Tel: + 84.333.835 693

Fax: + 84.333.838 071

Email:dpi.quangninh@gmail.com

6

Dự án đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước khu công nghiệp – dịch vụ- cảng biển Hải Hà

20

Khu công nghiệp cảng biển Hải HàCông ty thi công và cấp nước
Quảng Ninh

Tel:+ 84 33 3835 733

Fax: +84 33 3835 796

7

Dự án đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống cấp nước khu vực phía Tây Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

11

Khu vực phía tây Hạ LongCông ty thi công và cấp nước
Quảng Ninh

Tel:+ 84 33 3835 733

Fax: +84 33 3835 796

Về trang bản đồ