Tỉnh Ninh Bình

   Chuyên mục: Bản đồ Việt Nam
Thành viên


Du lịch sinh thái Tràng An, Ninh Bình


1. CON NGƯỜI

Tỉnh Ninh Bình có trên 90 vạn dân sinh sống ở 8 huyện, thành phố, thị xã với 2 dân tộc Kinh và Mường. Mỗi dân tộc, mỗi địa phương trong tỉnh có một bản sắc văn hoá truyền thống, song đều hội tụ một phẩm chất chung đó là cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, đoàn kết, dũng cảm trong đấu tranh chống thiên tai, chống lại các thế lực thù địch, gắn bó và yêu quê hương tha thiết.

Lễ hội cồng chiêng của bà con dân tộc Mường ở Nho Quan

1. Trước hết nhân dân Ninh Bình có truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, góp phần xứng đáng vào công cuộc dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc việt Nam.

Vào đầu Công nguyên, nghĩa quân 2 Bà Trưng đã dựa vào tuyến địa hình núi rừng của chân núi từ Ba Vì đến Tam Điệp-Thần Phù để chống cự lại cuộc tiến công đàn áp của quân Hán do Mã Viện chỉ huy. Sau khi căn cứ Cấm Khê bị mất, nghĩa quân lui xuống vùng Tam Điệp- Thần Phù để tiếp tục cuộc chiến đấu. Nhân dân các vùng này vừa che chở nghĩa quân, vừa cung cấp lương thực, thực phẩm và tích cực tham gia nghĩa quân để chống giặc. Đường biển lúc bấy giờ qua Thần Phù hiểm trở, sóng to gió lớn, đi lại nguy hiểm, Mã Viện phải sai quân lính phá núi, mở đường sông gọi là Tạc Khẩu để vào Thanh Hoá.

Đầu thế kỷ thứ X, Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền cũng dựa vào bức trường thành Tam Điệp để xây dựng và bảo vệ lực lượng ở Thanh Hoá, rồi tiến ra đánh bại quân xâm lược Nam Hán, lập nên chiến công lẫy lừng ở Đại La năm 930, Bạch Đằng năm 938.

Núi rừng Gia Viễn, Hoa Lư hiểm trở đã từng là căn cứ địa và cung cấp sức người sức của nhiều nhất để Đinh Tiên Hoàng chiêu binh mãi mã, phất cờ lau khởi nghĩa dẹp loạn 12 sứ quân, dựng nền chính thống năm Mẫu Thìn, 968, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Trường Yên. Kinh đô Hoa Lư gắn với 2 triều đại Đinh, Lê và là điểm tựa đầu tiên của triều Lý, khi Lý Thái tổ vừa mới lên ngôi, đã trải qua 42 năm lịch sử.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên hồi thế kỷ thứ XIII, triều Trần đã sử dụng bức tường thành Tam Điệp để bảo vệ  hậu phương Ái-Diễn (Thanh Hóa và Nghệ An) và làm chỗ dựa cho căn cứ Thiên Trường- Trường Yên. Trần Thái Tông đã cho xây dựng cung Thái Vi (Ninh Hải- Hoa Lư) mở đầu cho việc xây dựng hành cung Vũ Lâm tạo dụng cơ sở kháng chiến chống giặc Mông- Nguyên lần thứ hai (1285). Nhà Trần đã rút lui chiến lược về vùng núi Thiên Dưỡng, nay là vùng núi Hệ Dưỡng, ngay sát hành cung Vũ lâm, xây dựng căn cứ địa Trường Yên để chống giặc.

Núi rừng và nhân dân vùng Ninh Bình vừa là áo giáp, vừa là vùng hậu cứ vững chắc của vua tôi nhà Trần xuất quân đánh giặc.

Năm 1400, nhà Minh xâm lược nước ta, Trần Ngỗi, dòng dõi nhà Trần đã lấy vùng đất Mô Độ (huyện Yên Mô) xây dựng căn cứ địa kháng chiến. Từ đây phát triển lực lượng, tổ chức các cuộc tấn công, quân Trần đã làm nên chiến thắng Bô Cô (Ý Yên) vang dội. Năm 1426-1427, nghĩa quân Lam Sơn do Bình Định Vương Lê Lợi lãnh đạo cũng nhiều lần qua lại vùng Tam Điệp, huyện Khôi (Nho Quan) trên đường tiến ra giải phóng các lộ vùng đồng bằng Bắc bộ.

Cuối năm 1788, lợi dụng hành động bán nước của vua tôi Lê Chiêu Thống, 29 vạn quân Mãn Thanh tràn vào xâm lược nước ta. Trước so sánh tương quan lực lượng quá chênh lệch và tình hình chính trị bất lợi ở Bắc Hà, Ngô Thì Nhậm đã đề ra chủ trương sáng suốt, rút lui chiến lược, lập phòng tuyến Tam Điệp- Biện Sơn để bảo toàn lực lượng và chờ thời cơ tiêu diệt quân thù. Chủ trương này đã góp phần to lớn làm nên chiến thắng vang dội mùa xuân Kỷ Dậu 1789, giải phóng kinh thành Thăng Long, quét sạch 29 vạn quân Mãn Thanh xâm lược ra khỏi bò cõi nước ta.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ngay từ đầu, nhiều người con của Ninh Bình đã tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1860, trong đoàn quân 300 nghĩa dũng Nam tiến do Hoàng giáp Tam đăng Phạm Văn Nghị dẫn đầu, có nhiều nghĩa sỹ là người Ninh Bình. Trong 2 lần giặc Pháp đánh chiếm thành Ninh Bình  (1873-1883), mặc dù quân lính triều Nguyễn nhanh chóng đầu hàng, nhưng nhân dân Ninh Bình vẫn theo cụ Phạm Văn Nghị, cụ Nguyễn Xuân Giá lấy Đề Cốc (Nho Quan) làm căn cứ chống lại địch một cách quyết liệt. Năm 1883 người Mường ở Ninh Bình và Thanh Hoá do Đốc tâm chỉ huy đã nổi dậy khởi nghĩa. Năm 1886 trong một trận phục kích ở Nho Quan nghĩa quân đã giết chế tên chỉ huy Pháp là Phô- Giê, cùng một số đông lính Pháp. Cuộc võ trang khởi nghĩa kéo dài tới năm 1896, Thiên Hộ Giản (tức Nguyễn Văn Giản) đã cùng với ba con lấy làng Phùng Thiện (Khánh Tiên- Yên Khánh), quê hương mình làm căn cứ chống Pháp.

Chính truyền thống chống giặc ngoại xâm ấy của nhân dân Ninh Bình mà khi Đảng ta ra đời, Ninh Bình là một trong những địa phương có cơ sở Đảng sớm nhất như ở Lũ Phong (Quỳnh Lưu- Nho Quan) và Côi Trì (Yên Mỹ- Yên Mô).

2. Nhân dân Ninh Bình không những có truyền thống đấu tranh anh dũng chống giặc ngoại xâm mà còn rất cần cù, sáng tạo và giàu kinh nghiệm trong lao động sản xuất, đấu tranh với thiên nhiên.

Các thế hệ người dân Ninh Bình đã khai sơn phá thạch, tạo dựng quê hương, phát triển nền sản xuất nông nghiệp đa dạng, bạt núi xẻ đồi, mở mang làng bản, quai đê lấn biển xây dựng vùng quê trù phú, màu mỡ với núi sông, rừng biển kỳ thú.

Đặc biệt nhân dân Ninh Bình đã phát huy khả năng khéo léo của đôi bàn tay và trí tuệ của mình tạo nên nhiều nghề thủ công lâu đời, nổi tiếng như nghề đan cói, dệt chiếu, thêu ren, chạm khắc đá, làm hàng mộc…Đó là những nghề truyền thống có giá trị thẩm mỹ và giá trị kinh tế cao.

3. Mảnh đất Ninh Bình đã sản sinh ra những người con tuấn kiệt

+ Đinh Tiên Hoàng cờ lau dẹp loạn, thống nhất giang sơn, mở nước, định đô, đặt nền móng đầu tiên cho kỷ nguyên phục hưng và văn minh Đại Việt. Nguyễn Minh Không được nhà Lý phong Quốc sư, nhân dân tôn là bậc Thánh. 

+ Trương Hán Siêu, nhà văn nổi tiếng thời Trần được các vua Trần gọi bằng thầy, làm quan đến Gián nghị đại phu, Tham tri chính sự, khi mất được truy phong đến Thái phó và cùng với Chu Văn An được thờ ở Văn Miếu (Hà Nội) và miếu Lịch đại đế vương (Huế). Thời Lê có Trịnh Lỗi theo Lê Thái Tổ dẹp loạn quân Minh, lập nhiều công lớn, được phong Thượng Đình hầu, Nhập nội đại hành khiển, Tả bộc xạ, khi mất được tặng Phụ quốc Thượng tướng quân.

+ Đời Nguyễn có Vũ Duy Thanh đỗ Bác học hoành tài, đệ nhất giáp, đệ nhị danh, bảng nhãn Cát sĩ cập đệ (mũ áo ân điển ngang với Trạng nguyên khoa tiến sĩ). Vũ Duy Thanh làm quan đến Tế tửu Quốc tử giám.

Ngoài ra chúng ta còn kể đến rất nhiều danh tướng, danh sĩ các đời. Đánh giá về nhân vật và phong tục Ninh Bình sách đại Nam nhất thống chí viết: “Trường Yên là kinh đô đầu tiên của nước ta trong khi kiến quốc. Phúc Thành (Trương Hán Siêu) như núi cao, sao sáng của nho lưu. Sĩ phu thì chuộng khí tiết, nhân dân chăm làm và tằn tiện”.

Truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm và tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động là nét nổi bật nhất và cũng là di sản tinh thần vô giá của nhân dân các dân tộc ở Ninh Bình trong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. truyền thống quý báu đó được kế tục và phát huy từ đời này sang đời khác và càng được phát huy cao độ từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, nó trở thành các cao trào cách mạng của nhân dân trong tỉnh.

Cố đô Hoa Lư - Non nước Tràng An, Ninh Bình

2. ĐỊA LÝ

I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ:

Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc bộ, 19050’ đến 20027’ độ Vĩ  Bắc, 105032’ đến 106027’ độ Kinh Đông. Dãy núi Tam Điệp chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, làm ranh rới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh Hoá. Phía Đông và Đông Bắc có sông Đáy bao quanh, giáp với hai tỉnh Hà Nam và Nam Định, phía Bắc giáp tỉnh Hoà Bình, phía Nam là biển Đông. Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10 và đường sắt Bắc Nam chạy xuyên qua tỉnh.


Thành phố Ninh Bình

II. ĐỊA HÌNH

Địa hình Ninh Bình có 3 vùng rõ rệt:

*Vùng đồng bằng

Bao gồm: Thành phố Ninh Bình, huyện Yên Khánh, huyện Kim Sơn và diện tích còn lại của các huyện khác trong tỉnh, diện tính khoảng 101 nghìn ha, chiếm 71,1% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, là nơi tập trung dân cư đông đúc nhất tỉnh, chiếm khoảng 90% dân số toàn tỉnh. Vùng này độ cao trung bình từ 0,9÷1,2m, đất đai chủ yếu là đất phù sa được bồi và không được bồi. Tiềm năng phát triển của vùng là nông nghiệp: Trồng lúa, rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Về công nghiệp có cơ khí sửa chữa tàu, thuyền, chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp dệt, may, thương nghiệp dịch vụ, phát triển cảng sông.

*Vùng đồi núi và bán sơn địa

Vùng này nằm ở phía tây và Tây Nam của tỉnh, bao gồm các khu vực phía Tây Nam huyện Nho Quan và thị xã Tam Điệp, phía tây huyện Gia Viễn, phía Tây Nam huyện Hoa Lư và Tây Nam huyện Yên Mô. Diện tích toàn vùng này khoảng 35.000 ha, chiếm 24% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Độ cao trung bình từ 90-120m. Đặc biệt khu vực núi đá có độ cao trên 200m.


Du lịch Tràng An

Vùng này tập trung tới 90% diện tích đồi núi và diện tích rừng của tỉnh, do đó rất thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp như: Sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất mía đường, chế biến gỗ, chế biến hoa quả, du lịch, chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò, dê), trồng cây ăn quả (dứa, vảu, na), trồng cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phê và trồng rừng.

*Vùng ven biển

Ninh Bình có trên 15km bờ biển. Vùng này thuộc diện tích của 4 xã ven biển huyện Kim Sơn là: Kim Trung, Kim Hải, Kim Đông, Kim Tân, diện tích khoảng 6.000 ha, chiếm 4,2% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Đất đai ở đây còn nhiễm mặn nhiều do mới bồi tụ nên đang trong thời kỳ cải tạo, vì vậy chủ yếu phù hợp với việc trồng rừng phòng hộ (sú, vẹt), trồng cói, trồng một vụ lúa và nuôi trồng thuỷ hải sản.

III. KHÍ HẬU:

Ninh Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Thời tiết hàng năm chia thành 4 mùa rõ rệt là xuân, hạ, thu, đông. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230c. Số lượng giờ nắng trong năm trung bình trên 1100 giờ. Lượng mưa trung bình/năm đạt 1.800mm.

IV. GIAO THÔNG:

Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng từ miền Bắc vào miền Trung và miền Nam.

-  Đường bộ: Trên địa bàn tỉnh có quốc lộ 1A, quốc lộ 10, quốc lộ 12A, 12B, 59A.

-  Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua tỉnh Ninh Bình có chiều dài 19 km với 4 ga (Ninh Bình, Cầu Yên, Ghềnh và Đồng Giao) thuận tiện trong vận chuyển hành khách, hàng hoá và vật liệu xây dựng.

- Đường thuỷ: Tỉnh Ninh Bình có hệ thống giao thông thuỷ rất thuận lợi do có nhiều con sông lớn như: Sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Càn, sông Vạc, sông Vân, sông Lạng. Ngoài ra còn có các cảng lớn như: Cảng Ninh Phúc, cảng Ninh Bình, Kim Sơn, góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

V. SÔNG NGÒI VÀ THỦY VĂN:

Hệ thống sông ngòi ở Ninh Bình bao gồm hệ thống sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Bôi, sông Ân, sông Vạc, sông Lạng, sông Vân Sàng, với tổng chiều dài 496km, phân bố rộng khắp trong toàn tỉnh. Mật độ sông suối bình quân 0,5km/km2, các sông thường chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam để đổ ra biển Đông.

VI. TÀI NGUYÊN

1. Tài nguyên đất

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.390 km2 với các loại đất phù sa, đất Feralitic.

2. Tài nguyên nước: Bao gồm tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước ngầm

- Tài nguyên nước mặt: Khá dồi dào, thuận lợi cho việc tưới, phát triển sản xuất nông nghiệp và dịch vụ giao thông vận tải thuỷ. Ninh Bình có mật độ các hệ thống sông, suối ở mức trung bình với tổng chiều dài các con sông chính trên 496km, chiếm diện tích 3.401ha, mật độ đạt 0,5km/km2. Bên cạnh đó, trong tỉnh còn có 21 hồ chứa nước lớn, diện tích 1.270ha, với dung tích 14,5 triệu m3 nước, năng lực tưới cho 4.438 ha.

- Nguồn nước ngầm: Nước ngầm ở Ninh Bình chủ yếu thuộc địa bàn huyện Nho Quan và thị xã Tam Điệp. Tổng lượng nước ngầm Rịa (Nho Quan) đạt 361.391m3/ngày. Vùng Tam Điệp 112.183m3/ngày.

3. Tài nguyên rừng.

So với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Ninh Bình là tỉnh có diện tích rừng lớn nhất với khoảng 19.033ha, chiếm 23,5% diện tích rừng của vùng, chiếm 13,3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Rừng tự nhiên: Tổng diện tích là 13.633,2ha, trữ lượng gỗ 1,1 triệu m3, tập trung chủ yếu ở huyện Nho Quan.

Rừng nguyên sinh Cúc Phương thuộc loại rừng nhiệt đới điển hình, động thực vật đa dạng, phong phú.

Rừng trồng: Diện tích đạt 5.387ha, tập trung ở huyện Nho Quan, Hoa Lư, Kim Sơn, thị xã Tam Điệp, với các cây trồng chủ yếu là thông nhựa, keo, bạch đàn, cây ngập mặn (vẹt và sậy).

4. Tài nguyên biển

Bờ biển Ninh Bình dài trên 15km với hàng nghìn hecta bãi bồi. Cửa Đáy là cửa lớn nhất, có độ sâu khá, đảm bảo tàu thuyền lớn, trọng tải hàng ngàn tấn ra vào thuận tiện.

Vùng biển Ninh Bình có tiểm năng nuôi trồng, khai thác, đánh bắt nguồn lợi hải sản với sản lượng từ 2000÷2.500tấn/năm.

5. Tài nguyên khoáng sản:

- Tài nguyên đá vôi:

Đá vôi là nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Ninh Bình. Với những dãy núi đá vôi khá lớn, chạy từ Hoà Bình, theo hướng tây bắc – đông nam, qua Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, thị xã Tam Điệp, Yên Mô, tới tận biển Đông, dài hơn 40 km, diện tích trên 1.2000ha, trữ lượng hàng chục tỷ mét khối đá vôi và hàng chục triệu tấn đôlômít. Đây là nguồn nguyên liệu lớn để sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng và một số hóa chất khác.

- Tài nguyên đất sét:

Phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp thuộc xã Yên Sơn, Yên Bình (thị xã Tam Điệp), huyện Gia Viễn, Yên Mô, dùng để sản xuất gạch ngói và nguyên liệu ngành đúc.

- Tài nguyên nước khoáng:

    Nước khoáng Ninh Bình chất lượng tốt, tập trung chủ yếu ở Cúc Phương (Nho Quan) và Kênh Gà (Gia Viễn) có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và du lịch với trữ lượng lớn. Đặc biệt nước khoáng Kênh Gà có độ mặn, thường xuyên ở độ nóng 53÷540C. Nước khoáng Cúc Phương có thành phần Magiêbicarbonat cao, sử dụng chế phẩm nước giải khát và chữa bệnh.

- Tài nguyên than bùn:

   Trữ lượng nhỏ, khoảng trên 2 triệu tấn, phân bố ở các xã Gia Sơn, Sơn Hà (Nho Quan), Quang Sơn (thị xã Tam Điệp), có thể sử dụng để sản xuất phân vi sinh, phục vụ sản xuất nông nghiệp.

VII. DÂN SỐ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM

- Với quy mô dân số năm 2009 là gần 900 nghìn người. So với dân số khu vực đồng bằng Sông Hồng, dân số tỉnh Ninh Bình chiếm 5,6% và bằng 1,2% dân số cả nước. Mật độ dân số của tỉnh (khoảng 675 người/km2) thấp hơn mật độ trung bình của vùng, dự kiến dưới 1 triệu người đến 2020 và đang nằm trong “thời kỳ dân số vàng”, là lợi thế không nhỏ để cung cấp nguồn lao động, thuận lợi trong quản lý và không gây sức ép lớn đối với phát triển kinh tế.

- Nguồn lao động khá về cả số lượng, chất lượng và đang ở thời kỳ đầu với tổng lao động năm 2008 chiếm 51,2% dân số (khoảng 480,3 nghìn người). Ninh Bình có tỷ lệ lao động thất nghiệp đô thị khá thấp (3,7%), chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá là khá so vùng ĐBSH cũng như cả nước. Do vậy, đây là một nhân tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực thủ công mỹ nghệ và công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động.

VIII. TIỀM NĂNG DU LỊCH - VĂN HÓA

1. Du lịch của tỉnh tương đối phong phú, đa dạng như: Núi, hồ, rừng với các di tích văn hóa, lịch sử, danh lam, thắng cảnh nổi tiếng như: Tam Cốc - Bích Động, rừng quốc gia Cúc phương; khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, Nhà thờ đá Phát Diệm... Mới đây nhất là quần thể du lịch sinh thái Tràng An và khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính (ngôi chùa lớn nhất Việt Nam).

Ninh Bình đã và đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận:

- Khu di tích lịch sử văn hoá Cố đô Hoa Lư: là Di sản văn hoá thế giới.

- Khu hang động Tràng An: là Di sản thiên nhiên thế giới.

2. Văn hóa:

- Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, là nơi chịu ảnh hưởng giữa nền văn hóa Hòa Bình và văn hóa Đông Sơn. Với đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa tương đối đa dạng mang đặc trưng khác biệt so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng.

- Các lễ hội lớn ở Ninh Bình: Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư; lễ hội Đền Thái Vi; lễ hội Chùa Bái Đính; lễ hội Báo Bản...

- Nói đến văn hóa ẩm thực của Ninh Bình nổi tiếng có các món ăn: Tái dê Cố đô, cơm cháy Hương Mai, cá rô Tổng Trường, ốc nhồi Gia Viễn, nem Yên Mạc…

3. THÔNG TIN CHÍNH PHỦ

Nội dung đang được cập nhật ...

4. THÔNG TIN UBND TỈNH/THÀNH PHỐ

 

Nội dung đang được cập...

5. HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

Nội dung đang được cập...


6. THÔNG TIN DỰ ÁN

Nội dung đang được cập...

Về trang bản đồ